Sức khỏe tổng quát

Điều trị sỏi đường mật – từ phẫu thuật đến nội soi mật tụy ngược dòng Update 07/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

<!– –>

Chẩn đoán và điều trị bệnh lý đường mật, đầu tụy và vùng tá tràng quanh nhú tá lớn từ lâu vẫn là một thách thức đối với nền y học thế giới nói chung và nước ta nói riêng. Ở Việt Nam bệnh lý đường mật-tụy cần can thiệp phẫu thuật còn phổ biến, trong đó sỏi ống mật chủ là một bệnh lý thường gặp với các biến chứng rất nặng nề như viêm đường mật, áp xe đường mật.

Về mặt cơ chế bệnh sinh, sỏi mật ở Việt Nam có thể có những điểm khác so với các nước phương Tây, nhưng trong chẩn đoán và điều trị sỏi đường mật thì không khác nhau nhiều. Khoảng hơn chục năm nay, nhờ áp dụng siêu âm, việc chẩn đoán bệnh mật-tụy ở nước ta đã có những tiến bộ đáng kể nhưng về điều trị, căn bản ta vẫn dùng phương pháp phẫu thuật nên những nhược điểm quan trọng của nó vẫn còn tồn tại. Cho tới nay, khi đứng trước một bệnh nhân sỏi mật tái phát sau khi đã mổ đi mổ lại nhiều lần, hay khi gặp một bệnh nhân nhiễm trùng đường mật có sốc, một bệnh nhân bị viêm tụy nặng v,v… bác sĩ lâm sàng đứng trước nhiều lựa chọn, không chỉ trong chỉ định mà còn gặp cả khó khăn ngay trong lúc mổ.

1. Các phương tiện chẩn đoán sỏi mật

Để chẩn đoán bệnh lý đường mật-tụy tại các cơ sở y tế trước khi có máy siêu âm chủ yếu dựa vào lâm sàng và tiền sử, X quang có chuẩn bị với thuốc cản quang dạng uống hay tiêm tĩnh mạch cũng được sử dụng nhưng kết quả thường không như mong muốn. Trong gần 20 năm trở lại đây siêu âm được ứng dụng ở Việt Nam và ngày càng được phổ biến rộng rãi, khi phương tiện chẩn đoán này ra đời đã giúp chẩn đoán bệnh lý gan-mật-tụy khá tốt đặc biệt là sỏi túi mật, còn sỏi đường mật chính thì gặp nhiều khó khăn nhất là tắc mật thấp (ống mật chủ đoạn 1/3 dưới), các tổn thương quanh vùng nhú tá tràng hoặc ghi nhận hình ảnh ống tụy, kết quả chẩn đoán còn hạn chế.
Chụp mật qua da cùng với các phương tiện khác như điện toán cắt lớp (CT Scanner), cộng hưởng từ (MRI), siêu âm qua nội soi là những phương pháp chẩn đoán khá tốt, tuy nhiên về bệnh mật và tụy trang bị các phương tiện này không những đắt tiền mà cũng còn những hạn chế về chẩn đoán và chưa tham gia vào quá trình can thiệp và điều trị. Hình ảnh khối tụy, siêu âm cũng như các phương tiện chẩn đoán hiện đại khác rất cần những hình ống tụy chụp X quang qua nội soi mật tuỵ ngược dòng là có giá trị nhất.

Chụp cộng hưởng từ

Chụp cộng hưởng từ (MRI) chuẩn đoán sỏi đường mật

2. Một số khó khăn trong phẫu thuật điều trị sỏi đường mật

Phẫu thuật mở đường mật thám sát qua đường mổ bụng kinh điển đã có lịch sử trên 100 năm và cho tới những năm gần đây, điều trị sỏi ống mật chủ (OMC) trong điều kiện ở nước ta là phẫu thuật mở OMC lấy sỏi và dẫn lưu Kehr. Vì trong thực tế khi đứng trước một trường hợp bệnh lý đường mật-tụy, dù mổ chương trình có chuẩn bị nhất là trong cấp cứu đường mật, chúng ta thường gặp các khó khăn sau đây:

  • Nhiễm trùng đường mật do sỏi là một cấp cứu ngoại khoa cần giải áp đường mật sớm, nhưng trong cấp cứu thường mổ khó triệt để, tai biến-biến chứng và tử vong có thể xảy ra ở một tỉ lệ nhất định.
  • Tắc mật do sỏi tái phát và bệnh nhân đã được mổ cắt túi mật, mổ lại sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm đường mật. Sót sỏi sau mổ, sỏi trong gan, sỏi ống tụy đều gây khó khăn cho phẫu thuật viên.
  • Giun lên ống mật, lên ống tụy chính hay viêm tụy cấp do sỏi, ít khi điều trị nội khoa đơn thuần thành công mà mổ thì nặng nề.
  • Hẹp đường mật nhất là do bệnh lý ác tính của đường mật hay của tụy khả năng mổ triệt để không cao, tỉ lệ sống sót sau 5 năm khá thấp, mổ tạm thì nặng nề trong khi đó thế giới đã chứng minh tính hiệu quả của phương pháp đặt nòng giải áp mật qua nội soi ngược dòng (ERCP).
  • Tìm nguyên nhân gây viêm tụy cấp thường khó, điều trị viêm tuỵ cấp do sỏi mật thường để chậm, khi có biến chứng mới can thiệp ngoại khoa, hậu quả sau mổ nặng nề. Trong khi đó nội soi mật tụy ngược dòng vừa giúp chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh sớm lại vừa điều trị lấy sỏi tắc ở kênh chung mật-tụy có hiệu quả tức thì.
  • Mô tắc mật ở những bệnh nhân có nguy cơ cao do bệnh kèm theo như tim mạch, hô hấp, tiểu đường, xơ gan, tuổi già… thường tiên lượng nặng.
  • Rò mật sau mổ lại rất phức tạp và khó tìm được lỗ rò, BN mổ sỏi đường mật thường trở lại bệnh viện vì bệnh hay tái đi tái lại, sẹo mổ gây chấn thương tâm lý không ít nhất là với bệnh nhân nữ.

3. Những nền móng đầu tiên của phương pháp nội soi mật tụy ngược dòng tại Việt Nam

Để tìm phương cách chẩn đoán ngày càng chính xác hơn, năm 1945 bác sĩ Lee Gillette đã dùng ống nội soi cứng soi qua nhú tá tràng chụp đường mật và thấy sỏi trong túi mật, xem đây như là thời kỳ sơ khai của nội soi mật tụy ngược dòng.

Tại Việt Nam các khó khăn trước đây thuộc cả 2 mặt chẩn đoán và điều trị, đặc biệt tỉ lệ mổ lại cao, xử trí chậm, tai biến-biến chứng kể cả tử vong còn nhiều. Vì những yếu tố đã nêu trên đây, việc ra đời của nội soi mật tụy ngược dòng thực sự đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trên cả hai phương diện chẩn đoán và điều trị.
Có thể phân chia các giai đoạn phát triển bệnh lý đường mật-tụy ở Việt Nam về áp dụng siêu âm trong chẩn đoán bắt đầu có siêu âm vào khoảng những năm 1980. Thực tế siêu âm được áp dụng đầu tiên để chẩn đoán bệnh gan mật, chủ yếu là sỏi và giun chui ống mật hay áp xe gan do amip vào năm 1981 tại Bệnh viện Việt Đức và công bố kết quả bước đầu 150 trường hợp trong tập san Ngoại Khoa số 3 năm 1986. Từ 1985 siêu âm chẩn đoán đã được áp dụng rộng rãi tại các Bệnh Viện Bạch Mai, Bệnh Viện Việt Xô, Quân Y Viện 103 Hà Nội. Ứng dụng siêu âm ở các tỉnh phía nam bắt đầu chậm hơn trong đó ở TP. HCM năm 1990 mới thấy áp dụng trên lâm sàng còn nội soi điều trị bệnh lý này bằng phương pháp ít xâm lấn, khởi đầu sử dụng phương tiện nội soi mật tụy ngược dòng tại Bệnh Viện Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1993 là cơ sở đầu tiên trong cả nước.

Kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng

Kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng

4. Vai trò của nội soi mật tụy ngược dòng trong điều trị bệnh lý đường mật

Thật ra dùng nội soi mật tụy ngược dòng để chẩn đoán bệnh không nhiều, chỉ sử dụng nó trong một số hoàn cảnh đặc biệt khi các phương tiện hiện hữu chưa tìm thấy nguyên nhân ví dụ một bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng, vàng da và hôn mê đang thở máy nhưng nội khoa hồi sức vẫn không cải thiện thì phương pháp chọn lựa lại là nội soi mật tụy ngược dòng. Hơn nữa vì kỹ thuật này đã đóng góp khá nhiều cho sự thành công trong điều trị bệnh lý mật-tụy nên ngày càng được nhiều bác sĩ chỉ định, tuy nhiên nội soi mật tụy ngược dòng chỉ điều trị khi được nội soi chẩn đoán loại trừ vì vậy số ca nội soi chẩn đoán ngày càng nhiều hơn.

Trong điều trị bệnh lý đường mật-tụy, sỏi mật là bệnh lý được nghiên cứu nhiều nhất. Ý nghĩ làm tan sỏi túi mật loại cholesterol đã được Durane nghĩ đến từ năm 1872 nhưng phải đợi đến 1892, Naunyn mới thực hiện được điều này trong thực nghiệm trên chó. Trong lịch sử y học, ngoại khoa can thiệp vào bệnh lý sỏi mật đã có từ lâu, vào năm 1882 Bobbs là người đầu tiên điều trị sỏi túi mật bằng phẫu thuật mở túi mật lấy sỏi và dẫn lưu.
Ngày nay, với sự phát triển kỹ thuật cũng như hiểu biết tường tận hơn về cấu tạo sỏi mật và chất làm tan sỏi đã đưa đến các phương pháp điều trị mới như: Uống thuốc chứa acid mật làm tan sỏi, tán sỏi ngoài cơ thể với sóng chấn động phối hợp với đặt ống thông mũi-mật để dẫn lưu, bơm chất làm tan sỏi vào đường mật, lấy sỏi mật qua da. Tuy nhiên nội soi mật tụy ngược dòng vẫn có vai trò đáng kể trong điều trị sỏi mật, với sự ra đời của siêu âm nội soi, nội soi mật tụy ngược dòng sẽ có những bước tiến xa hơn trong điều trị bệnh lý đường mật.

Hiện nay, Khoa Ngoại tiêu hóa Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã áp dụng kỹ thuật nội soi mật tụy ngược dòng để điều trị các bệnh lý sỏi ống mật chủ, sỏi ống gan, u bóng Vater, u đầu tụy, đặt stent đường mật, sond mật mũi, trong đó có bệnh sỏi đường mật, với tỷ lệ thành công cao trên 98%.

Kỹ thuật Nội soi mật tụy ngược dòng tại Vinmec được thực hiện bởi các Bác sĩ nổi tiếng có chuyên môn cao, tay nghề giỏi, tận tâm và chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, Vinmec đã trang bị 1 hệ thống soi mềm hiện đại với Dao điện Endocut có ưu điểm không gây viêm tụy và các phản ứng tụy, giúp tăng tỷ lệ thành công và hạn chế tối đa các biến chứng có thể xảy ra ở kỹ thuật này.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, Quý khách có thể Đăng ký tư vấn từ xa TẠI ĐÂY

Comments are closed.