Sản phụ khoa và Hỗ trợ sinh sản

Virus HPV lây nhiễm như thế nào? Blog-Health.com Update 06/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ chuyên khoa II Huỳnh Thị Hiên – Bác sĩ Sản phụ khoa – Khoa Sản phụ khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Nha Trang.

<!– –>

HPV là bệnh lây truyền qua đường tình dục rất phổ biến. Trong đó, một số loại virus HPV sẽ gây ra mụn cóc sinh dục hay thậm chí là ung thư.

1. HPV là gì?

HPV là một loại vi rút gây u nhú ở người, là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất trên thế giới hiện nay. Có nhiều loại HPV khác nhau, trong đó một số loại có thể gây ra các vấn đề sức khỏe, bao gồm mụn cóc sinh dục và 6 loại ung thư cho người nhiễm bệnh trong thời gian dài.

Hầu hết những người bị nhiễm HPV không biết mình bị mắc bệnh và cũng không gặp bất kỳ triệu chứng hay các vấn đề sức khỏe nào. Phụ nữ có thể biết mình bị nhiễm HPV khi nhận được kết quả xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung bất thường.

2. Virus HPV lây truyền như thế nào?

Quan hệ

Virus HPV lây truyền qua đường âm hoặc hậu môn

Nhiều người đặt ra câu hỏi “Virus HPV có lây không?” hay “Virus HPV lây qua đường nào?”. Xung quanh vấn đề này, các bác sĩ cho biết:

HPV lây lan qua tiếp xúc da kề da. Bạn có thể bị nhiễm virus HPV khi quan hệ tình dục trực tiếp qua đường âm đạo, hậu môn hoặc miệng với người đã nhiễm virus.

Virus HPV lây qua đường nào là phổ biến nhất thì câu trả lời đó là đường âm đạo hoặc hậu môn. HPV có thể lây nhiễm ngay cả khi người truyền bệnh không có bất kỳ dấu hiệu hay triệu chứng nào.

Người có quan hệ tình dục sẽ dễ đối mặt với nguy cơ bị nhiễm HPV hơn khi:

  • Quan hệ tình dục quá sớm;
  • Vùng da bộ phận sinh dục ngoài có vết trầy xước
  • Có nhiều bạn tình;
  • Có bạn tình đã từng quan hệ với nhiều người trước đây.

Tất cả những người đã quan hệ tình dục đều có thể bị nhiễm virus HPV, ngay cả khi bạn chỉ làm “chuyện ấy” với một người duy nhất. Đôi khi bạn chỉ phát triển các triệu chứng nhiều năm sau khi bạn quan hệ tình dục với người bị nhiễm bệnh. Điều này gây khó khăn cho việc xác định thời gian mắc bệnh chính xác của một người.

Cần lưu ý rằng một người không thể bị nhiễm virus HPV qua:

  • Bàn cầu;
  • Ôm hoặc nắm tay;
  • Kém vệ sinh sạch sẽ;
  • Ăn hoặc dùng chung chén đũa;
  • Bơi cùng nhau trong hồ bơi hay bồn tắm nóng;
  • Yếu tố di truyền.

3. Các vấn đề sức khỏe do HPV gây ra

Mụn cóc sinh dục

Mụn cóc sinh dục thường xuất hiện dưới dạng một vết sưng nhỏ hoặc mảng sưng lớn ở vùng sinh dục

Khoảng 90% các trường hợp nhiễm HPV sẽ tự khỏi sau 2 năm và không gây ra bất kỳ vấn đề sức khỏe nào. Nhưng đôi khi nhiễm trùng HPV không biến mất mà có thể khiến người bệnh gặp tình trạng mụn cóc sinh dục hoặc một số loại ung thư. Tuy đều là HPV song các loại virus gây ra mụn cóc sinh dục không giống như những loại có thể dẫn đến ung thư.

3.1. Mụn cóc sinh dục

Mụn cóc sinh dục thường xuất hiện dưới dạng một vết sưng nhỏ hoặc mảng sưng lớn ở vùng sinh dục. Hình dạng của mụn cóc thường tương tự như bề mặt bó bông cải. Các bác sĩ sẽ chẩn đoán mụn cóc bằng cách quan sát bên ngoài bộ phận sinh dục.

Không có phương pháp điều trị chính cho các vấn đề sức khỏe mà HPV gây ra, tuy nhiên có thể kiểm soát mụn cóc sinh dục bằng một số loại thuốc theo toa của bác sĩ.

3.2. Ung thư

Ước tính hàng năm tại Hoa Kỳ, HPV là nguyên nhân gây ra gần 35.000 trường hợp ung thư ở cả nam lẫn nữ giới, bao gồm:

  • Ung thư cổ tử cung, âm đạo và âm hộ ở phụ nữ;
  • Ung thư dương vật ở nam giới;
  • Ung thư hậu môn và mặt sau của cổ họng, trong đó có lưỡi và amidan (hầu họng), ở cả phụ nữ và nam giới.

Thông thường phải mất đến nhiều năm, sau khi một người bị nhiễm virus HPV thì bệnh ung thư mới phát triển. Tiền ung thư cổ tử cung có thể được điều trị nếu phụ nữ xét nghiệm và sàng lọc hàng năm để kịp thời phát hiện các vấn đề trước khi những tế bào ác tính phát triển. Các bệnh ung thư khác liên quan đến HPV cũng dễ điều trị hơn khi được chẩn đoán và can thiệp sớm. Vì vậy , phòng bệnh vẫn luôn tốt hơn chữa bệnh thông qua khám sức khỏe định kỳ và tầm soát ung thư.

4. Đề phòng nhiễm HPV

Vắc xin HPV

Tiêm phòng vắc-xin HPV là cách giảm nguy cơ bị nhiễm virus an toàn và hiệu quả

4.1. Tiêm vắc-xin HPV

Tiêm phòng vắc-xin HPV là cách giảm nguy cơ bị nhiễm virus an toàn và hiệu quả. CDC khuyến nghị tất cả bé trai và gái nên tiêm 2 liều vắc-xin HPV ở độ tuổi 11 – 12, hoặc có thể bắt đầu sớm nhất từ lúc 9 tuổi. Để vắc-xin HPV phát huy hiệu quả tối đa, nên tiêm trước khi có tiếp xúc với virus. Do đó, vắc-xin HPV được khuyến nghị ở trẻ em để đảm bảo khả năng bảo vệ lâu dài. Ngoài ra, mọi người dưới 26 cũng có thể tiêm vắc-xin nếu chưa được chủng ngừa trước đây.

Nếu trẻ em đã được tiêm liều vắc-xin đầu tiên trước 15 tuổi thì chỉ cần tổng cộng 2 mũi. Đối với trẻ vị thành niên bắt đầu tiêm vào đúng hoặc muộn hơn tuổi 15 thì cần tiêm đủ 3 liều.

4.2. Quan hệ tình dục an toàn

Dựa trên cơ chế virus HPV lây truyền, bạn có thể chủ động tìm cách hạn chế nhiễm virus cho bản thân. Đối với người có sinh hoạt tình dục, cần ngăn ngừa nguy cơ mắc các bệnh do HPV gây ra bằng cách:

  • Dùng bao cao su: Mặc dù có thể hạn chế tỷ lệ bị nhiễm HPV, nhưng virus này vẫn có khả năng lây nhiễm thông qua các khu vực không được bao phủ bởi bao cao su. Vì vậy biện pháp này không thể bảo vệ bạn tối đa;
  • Quan hệ một vợ một chồng: Chỉ quan hệ tình dục với một người. Tuy nhiên vẫn có trường hợp người bạn tình lại bị lây nhiễm từ người khác và truyền sang cho bạn. Cần khám sức khỏe khi nghi ngờ có nguy cơ nhiễm HPV
  • Đối với nữ giới từ 21 – 65 tuổi, nên sàng lọc ung thư cổ tử cung định kỳ hàng năm , để được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Virus HPV có lây qua đường miệng, âm đạo và hậu môn khi quan hệ tình dục, nên việc có bạn tình mới chính là yếu tố rủi ro làm lây nhiễm virus mới. Trong khi những người có mối quan hệ một vợ một chồng lâu dài ít có khả năng bị nhiễm virus hơn. Bạn có thể ngăn ngừa nguy cơ bị ung thư khi tiêm vắc-xin HPV bắt đầu từ 11 – 12 tuổi.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, Quý khách có thể Đăng ký tư vấn từ xa TẠI ĐÂY

Bài viết tham khảo nguồn: cdc.gov

Write A Comment