Sức khỏe tổng quát

Viêm bể thận cấp tính có những biểu hiện lâm sàng nào Blog-Health.com Update 06/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Thùy – Bác sĩ Nội thận – Lọc máu – Ghép thận – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

<!– –>

Viêm thận bể thận cấp tính là nhiễm khuẩn do vi khuẩn ngược dòng lên thận hoặc theo đường máu gây ra. Đây là một bệnh lý nhiễm trùng đột ngột và nghiêm trọng, có thể đe dọa đến tính mạng nếu không được điều trị và xử lý kịp thời.

1. Bệnh viêm bể thận cấp tính là gì?

Viêm thận bể thận cấp tính là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra, thường gặp là vi khuẩn Gram âm. Đây là một trong những bệnh phổ biến của thận, thường là biến chứng của nhiễm trùng đường tiết niệu kéo dài hoặc do đường máu đưa đến khi nhiễm khuẩn huyết.

Viêm thận bể thận cấp tính thường được chia thành 2 loại là viêm không phức tạp và phức tạp.

1.1 Viêm thận bể thận phức tạp

Viêm thận bể thận phức tạp xuất hiện ở phụ nữ mang thai, người tiểu đường không kiểm soát, bệnh nhân ghép thận, người có bệnh lý hệ tiết niệu, người suy thận cấp và mãn, bệnh nhân suy giảm miễn dịch.

1.2 Viêm thận bể thận cấp tính

Viêm thận bể thận cấp tính kéo dài hoặc tái phát nhiều lần có thể dẫn đến viêm thận bể thận mạn tính.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Có nhiều nguyên nhân gây viêm thận bể thận cấp tính. Tuy nhiên, nguyên nhân thường gặp nhất là vi khuẩn gram âm, phổ biến là Escherichia coli (70-80%) và một số vi khuẩn gram âm khác gồm Proteus mirabilis, Klebsiella, Enterobacter… Ngoài ra, vi khuẩn Gram dương cũng có khả năng là một tác nhân gây bệnh nhưng ít gặp hơn (dưới 10%) như Enterococcus, Staphylococcus…

Các yếu tố thuận lợi cho bệnh viêm thận bể thận cấp tính:

  • Nhiễm khuẩn tiết niệu ngược dòng trong trào ngược bàng quang – niệu quản.
  • Nhiễm khuẩn do chụp thận ngược dòng (UPR).
  • Nhiễm khuẩn sau phẫu thuật tiết niệu.
  • Tắc nghẽn đường tiết niệu do sỏi, do khối u, xơ sau phúc mạc, hội chứng chỗ nối, hẹp bể thận niệu quản…
  • Tắc nghẽn đường tiểu do có thai.

Tắc nghẽn đường tiểu

Tắc nghẽn niệu đạo dẫn tới bệnh viêm phổi cấp tính
  • Ổ viêm khu trú: viêm tuyến tiền liệt, viêm bàng quang, viêm ruột thừa, viêm trực tràng, viêm phần phụ…
  • Giao hợp không bảo đảm vệ sinh.

3. Biểu hiện viêm bể thận cấp tính

Các dấu hiệu nhiễm khuẩn bể thận cấp tính thường xuất hiện rầm rộ với các biểu hiện như:

  • Đột ngột sốt cao (sốt cao hơn 38.9 độ C), có nhu cầu đi tiêu khẩn cấp, bệnh nhân rét run, thể trạng suy sụp nhanh chóng, lưỡi bẩn, môi khô nứt nẻ, nước tiểu có mùi tanh, có màu đục, có mủ hoặc có máu…
  • Khi sử dụng thuốc hạ sốt, cơn sốt của người bệnh chỉ giảm đi trong một khoảng thời gian ngắn (vài giờ) sau đó cơn sốt lại bùng phát rầm rộ trở lại. Bệnh nhân than đau ở vùng sườn lưng, có thể chỉ đau một bên hoặc đau cả hai bên (hiếm khi hai bên).
  • Cơn đau âm ỉ hoặc đôi khi cảm thấy đau dữ dội như bị dao đâm. Cơn đau có thể lan xuống vùng bàng quang, lan ra cả bộ phận sinh dục ngoài. Khi vỗ vào vùng hố sườn lưng của bệnh nhân sẽ có phản ứng, đau, tức, đây là biểu hiện chẩn đoán bệnh rất có giá trị, đặc biệt là khi bệnh nhân đau một bên.
  • Một số bệnh nhân viêm thận bể thận cấp có kèm hội chứng bàng quang (nhưng không phải người bệnh nào cũng có các triệu chứng này) như: tiểu buốt, cảm giác nóng rát, tiểu rắt, mót tiểu và phải rặn liên tục, nước tiểu đục, thậm chí tiểu ra máu.
  • Xét nghiệm máu thấy bạch cầu tăng, đặc biệt là bạch cầu đa nhân trung tính tăng, có thể mắc kèm với nhiễm khuẩn huyết. Khi ure và chỉ số creatinin máu tăng cao có nghĩa là có suy thận cấp hoặc có đợt cấp của suy thận mạn. Có thể xuất hiện cơn đau quặn thận.

Ngoài ra một số bệnh nhân vào đợt cấp viêm thận bể thận còn biểu hiện chán ăn, ăn không ngon, buồn nôn, bụng trướng, mệt mỏi rã rời…

4. Cận lâm sàng chẩn đoán viêm bể thận cấp tính

  • Công thức máu: Bạch cầu tăng rõ rệt, nhất là bạch cầu đa nhân trung tính.
  • Cấy máu: Bệnh nhân sốt cao > 39 – 40 độ C kèm theo rét run thường do vi khuẩn Gram-âm E.coli, ít gặp hơn là Enterobacter, Klebsiella, Proteus và Pseudomonas.
  • Xét nghiệm đánh giá chức năng thận – độ lọc cầu thận: giúp điều chỉnh liều kháng sinh.
  • Protein niệu <1g/24 giờ.
  • Tế bào niệu: phát hiện có tế bào mủ, có nhiều tế bào bạch cầu, hồng cầu.
  • Cấy vi khuẩn niệu: Trường hợp cơn đau của người bệnh là không điển hình cần phải cấy vi khuẩn niệu để xác định chẩn đoán và áp dụng kháng sinh đồ cho điều trị.
  • Hình ảnh siêu âm bệnh viêm bể thận cấp tính: Khối giảm mật độ cùng với âm dội bên trong.
  • Siêu âm: Phát hiện các dấu hiệu giãn đài bể thận, giãn niệu quản, sỏi thận – tiết niệu, khối u chèn ép… là những nguyên nhân gây viêm bể thận cấp.

Siêu âm ổ bụng

Siêu âm để chẩn đoán bệnh viêm bể thận cấp tính nhanh nhất
  • Chụp niệu đồ tĩnh mạch thực hiện sau khi sốt nhiễm khuẩn đã ổn định, tìm kiếm nguyên nhân và vị trí gây tắc nghẽn đường tiết niệu.
  • Chụp bàng quang: Tiến hành sau khi tình trạng nhiễm khuẩn đã được giải quyết nếu nghi ngờ có trào ngược bàng quang – thận.
  • Một số trường hợp khó, có thể phải chụp bể thận ngược dòng, chụp CT hoặc chụp MRI hệ thận tiết niệu để tìm nguyên nhân gây viêm.

5. Viêm bể thận cấp có chữa được không?

Bệnh viêm bể thận cấp tính thường tiến triển tốt và sẽ hồi phục hoàn toàn khi được điều trị sớm, điều trị đúng thuốc, sau vài ngày sẽ cắt cơn sốt, nước tiểu trong trở lại, thường là sau 1- 2 tuần.

Tuy nhiên, nếu điều trị muộn hoặc điều trị không đúng cách thì bệnh dễ xuất hiện biến chứng: Dễ tái phát, có thể chuyển thành viêm nhiễm mạn tính, dẫn đến suy thận, ứ mủ thận, hoại tử núm thận, nhiễm khuẩn huyết… thậm chí có thể làm bệnh nhân tử vong.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, Quý khách có thể Đăng ký tư vấn từ xa TẠI ĐÂY

Write A Comment