Sức khỏe tổng quát

Vai trò của kỹ thuật khối tế bào trong chẩn đoán tế bào học từ bệnh phẩm chọc hút kim nhỏ Update 07/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

Bài viết bởi Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Hằng – Đơn nguyên giải phẫu bệnh – Khoa Xét nghiệm – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City

<!– –>

Thực hiện kỹ thuật chọc hút kim nhỏ (Fine needle aspiration cytology (FNAC) đối với các tổn thương ở vị trí nông hoặc sâu ngày càng trở nên phổ biến trong thực hành, giúp tiết kiệm thời gian và là một thủ thuật chẩn đoán chi phí thấp, đồng thời cung cấp chẩn đoán nhanh và chính xác.

1. Kỹ thuật khối tế bào là gì?

Chẩn đoán tế bào học là khoa học về phiên giải các tế bào bao gồm: Tế bào bong ra từ biểu mô bề mặt và tế bào được loại bỏ từ các mô khác nhau. Kỹ thuật khối tế bào có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm cách lấy mẫu và kiểm tra các tế bào bong như phết tế bào âm đạo, đờm, nước tiểu, dịch cơ thể…Việc lấy mẫu tế bào bằng bàn chải, cạo hoặc kỹ thuật chà. George N Papanicolaou đã giới thiệu phương pháp tế bào như 1 công cụ phát hiện ung thư và tiền ung thư từ năm 1928.

Mức độ chính xác của xét nghiệm tế bào học từ các vị trí khác nhau của cơ thể phụ thuộc phần lớn vào chất lượng lấy mẫu, xử lý mẫu, nhuộm và phiên giải mẫu vật liệu. Bất kỳ bước nào trong số những bước trên không đạt yêu cầu đều có tác dụng xấu đến chất lượng chẩn đoán tế bào học. Đôi khi việc đáng giá là khó khăn, do vậy, những mẫu vật liệu thừa sau khi hoàn thành quá trình xử lý mẫu tế bào có thể được xử lý và đúc parafin như là kỹ thuật khối tế bào, có thể cho phép lấy lại được một lượng nhỏ của mẫu vật liệu tế bào.

Trong nghiên cứu của Elizabath P Mathew và Vijayalakshmi Nair cho thấy, độ nhạy, độ đặc hiệu và mức độ chẩn đoán chính xác của khối tế bào lần lượt là 71.11%, 100% và 71.73%. Các chỉ số này cho phiến đồ FNA là 62.22%, 100% và 63.04% tương ứng.

>>> Tế bào tiêu diệt tự nhiên (NK): Những điều cần biết

Trong một nghiên cứu của K T Brown và cộng sự khi đánh giá hồi cứu hồ sơ của 100 sinh thiết, được thực hiện liên tục từ tháng 1/ 1986 đến tháng 8/ 1987, bao gồm 84 bệnh nhân là những người có kết quả phân tích cả tế bào phết lam và khối tế bào và những người có đối chiếu lâm sàng, phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu cho thấy 64/84 sinh thiết (76% ) có tế bào u ác tính, 11 trường hợp có bằng chứng của quá trình lành tính và 9 trong số này không chẩn đoán được. Các tế bào u ác tính được chẩn đoán trên phiến đồ tế bào học trong 55/64 trường hợp (86%) có tế bào u ác tính trong khi ở 9 bệnh nhân khác thì tế bào u ác tính chỉ được chỉ ra trên phân tích khối tế bào. Trong nhóm rối loạn lành tính, chỉ có 1 trường hợp (9%) được chẩn đoán trên khối tế bào, trong khi phiến đồ tế bào học thì không. Nghiên cứu này đã cho kết luận rằng việc phân tích khối tế bào trên mẫu bệnh phẩm thừa sau khi xử lý phết làm có thể làm tăng mức độ chẩn đoán chính xác lên đến 14%.

Mặc dù những lợi ích của kỹ thuật khối tế bào đã thừa nhận rất nhiều, nhưng nó vẫn không thường được sử dụng thường quy và phổ biến nhiều ở Việt Nam.

Chọc hút tế bào tuyến giáp

Hình ảnh chọc hút tế bào tuyến giáp

2. Nguyên lý kỹ thuật khối tế bào

Nhằm tập trung các tế bào đơn lẻ, rải rác trong bệnh phẩm chọc hút kim nhỏ thành một khối có thể đưa vào chuyển, đúc, cắt nhuộm giống quy trình mô học thường quy, giúp tiết kiệm tối đa mẫu bệnh phẩm lấy ra khỏi cơ thể người bệnh.

>>> Tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ (fna) – Các bệnh lý hạch lympho

3. Quy trình kỹ thuật khối tế bào trong chẩn đoán tế bào học

3.1 Chuẩn bị

Bác sĩ, kỹ thuật viên;

Phương tiện, hóa chất:

  • Ống nghiệm thủy tinh kích thước 10 x 1,6 cm;
  • Formol trung tính 10%, thrombin hoặc thạch agar 3%;
  • Máy ly tâm, cassette, lam kính, giấy gói mô học (loại không dính);
  • Que gỗ nhỏ, bông gòn (loại không thấm nước), tủ lạnh, lò vi sóng;
  • Các dụng cụ, hóa chất kỹ thuật của quy trình mô học thường quy (nhuộm H&E, PAS…).

Người bệnh: Bệnh nhân được thực hiện thủ thuật chọc hút kim nhỏ (FNA) để lấy mẫu bệnh phẩm làm xét nghiệm tế bào.

Phiếu xét nghiệm: Điền đầy đủ các thông tin hành chính của bệnh nhân (tên, tuổi, số giường, số phòng, khoa phòng), chẩn đoán lâm sàng, tóm tắt các thông tin lâm sàng và cận lâm sàng, yêu cầu xét nghiệm khối tế bào bệnh phẩm chọc hút kim nhỏ (cellblock FNA); ngày, giờ lấy bệnh phẩm.

>>> Tế bào học chọc hút bằng kim nhỏ (FNA) – Các tổn thương tuyến vú

3.2 Các bước tiến hành

Lấy bệnh phẩm:

  • Bệnh phẩm FNA được chọc hút tại các Khoa lâm sàng hoặc Khoa Giải Phẫu Bệnh.
  • Sau khi bệnh phẩm được lấy xong, 1 phần bơm ra lam kính để làm phiến đồ phết lam (cell smears 1- 2 lam), phần còn lại (dịch thừa trong các lõi kim hoặc xi lanh) được rửa bằng 5 – 10 ml formol 10% (dùng các kim hỗ trợ nếu cần), cho vào ống nghiệm rồi gửi ngay về Khoa Giải Phẫu Bệnh – Tế Bào Học.
  • Để thu được nhiều mẫu bệnh phẩm hơn, thì có thể thực hiện đưa kim ra vào, hút thêm một lần chọc hút mới rồi bơm trực tiếp và rửa lõi kim vào ống nghiệm thay vì phết lam kính.

Lưu ý:

  • Nếu không có formol đệm trung tính 10% để rửa thì có thể dùng nước muối sinh lý thay thế, nhưng sau khi rửa xong phải gửi ngay bệnh phẩm về Khoa Giải phẫu bệnh.
  • Tuyệt đối không dùng kim đã được rửa bằng formalin để chọc hút lại vào người bệnh nhân.

>>> Các xét nghiệm được sử dụng trên các mẫu sinh thiết và tế bào học để chẩn đoán ung thư

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA)

Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA)

Tiến hành kỹ thuật

  • Bước 1: Cho các ống nghiệm chứa bệnh phẩm FNA vào máy ly tâm trong 10 phút với tốc độ 2000 vòng/phút.
  • Bước 2: Loại bỏ lớp dịch trong phía trên để lấy lắng cặn tế bào rồi cố định cặn tế bào trong formol đệm trung tính 10% tối thiểu 1 giờ.
  • Bước 3: Ly tâm bệnh phẩm lần nữa với tốc độ 2000 vòng/phút trong 10 phút nếu cần (nếu bệnh phẩm đã hình thành khối chắc thì qui trình có thể chuyển trực tiếp từ bước 2 sang bước 4).
  • Bước 4: Loại bỏ formol vào lọ đựng nước thải. Thêm vào một lượng nhỏ thrombin hoặc thạch agar 3% (3g bột thạch agar hòa tan trong 100ml nước cất) đã nóng chảy (bằng lò vi sóng trong 10 giây ở nhiệt độ trung bình) vào ống nghiệm. Chờ thrombin hoặc thạch agar đông lại. Cho vào tủ lạnh để thạch agar đông nhanh hơn nếu cần thiết. Thrombin hoặc thạch agar có tác dụng gia cố độ vững chắc cho khối tế bào. Chú ý: Phải đảm bảo chắc chắn không có bọt khí khi cho thạch agar vào ống.
  • Bước 5: Dùng que gỗ nhỏ để lấy khối tế bào ra khỏi ống và đặt lên một tờ giấy (loại giấy không dính có trong phòng xét nghiệm mô học). Gói khối tế bào trong giấy này và đặt vào trong cassette đã được dán nhãn với tên bệnh nhân và mã số khối tế bào.
  • Bước 6: Cho cassette có khối tế bào vào quy trình mô học thường quy.
  • Bước 7: Các mảnh cắt từ khối tế bào sau đó được nhuộm Hematoxylin – Eosin (H&E) và nhuộm đặc biệt (Periodic acid – Schiff (PAS), mucicarmine…) và nhuộm hóa mô miễn dịch khi cần. Các lát cắt thường có độ dày từ 3 – 5 μm.

>>> IHC test trong xét nghiệm ung thư vú dương tính với HER2

Nhận định kết quả:

  • Người nhận định: Bác sĩ Giải phẫu bệnh – Tế bào học.
  • Khối tế bào lưu giữ được các cấu trúc mô tốt hơn so với phiến đồ phết lam (cell smears), cho phép cắt được nhiều tiêu bản giống nhau, nhuộm H&E, nhuộm đặc biệt và nhuộm được hóa mô miễn dịch cho phép chẩn đoán xác định được nhiều loại tổn thương như nấm, các tổn thương ác tính hoặc định hướng nguồn gốc của các u nguyên phát.

3.2 Những sai sót và xử lý

  • Số lượng bệnh phẩm FNA thường rất ít, do vậy nên dùng luôn ống nghiệm KT 1,6 x 10 cm (loại vừa với giá ly tâm của phòng xét nghiệm) để đựng dịch rửa lõi kim, tránh tình trạng phải đổi sang nhiều loại ống cho vừa máy ly tâm, gây mất bệnh phẩm trong quá trình làm kỹ thuật.
  • Trong quá trình làm kỹ thuật có thể bị nhầm lẫn bệnh phẩm do quy trình gồm nhiều bước, rơi vỡ ống xét nghiệm làm mất bệnh phẩm… Cần phải làm việc tập trung, luôn luôn có sự kiểm tra, đối chiếu để tránh những sai sót không đáng có.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Nguồn tham khảo:

  1. Role of cell block in cytopathologic evaluation of image-guided fine needle aspiration cytology. Elizabath P Mathew and Vijayalakshmi Nair. Jul-Sep; 34(3):133–138., s.l. : J Cytol., 2017.
  2. Cytologic analysis in fine-needle aspiration biopsy: smears vs cell blocks. K T Brown 1, R K Fulbright, A M Avitabile, B Bashist. s.l. : AJR Am J Roentgenol. , 1993 Sep;, Vols. 161(3):629-31.
  3. Chẩn đoán tế bào học dịch màng phổi bằng kỹ thuật khối tế bào. Nguyễn Thị Hằng, Vũ Hoàng Ánh, Nguyễn Thu Hương, Bùi Mạnh Thắng. Hà Nội : Tạp chí Y học lâm sàng, 2012.

Write A Comment