Sức khỏe tổng quát

Vai trò của hình ảnh cắt lớp trong đánh giá đáp ứng ung thư biểu mô tuyến ống tụy sau điều trị bổ trợ Update 07/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

<!– –>

Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương – Bác sĩ nội soi tiêu hóa – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

Việc áp dụng hình ảnh chụp cắt lớp PET chỉ ra rằng đáp ứng ung thư biểu mô tuyến ống tụy sau điều trị bổ trợ tân sinh đã thay đổi từ đánh giá hình thái sang đánh giá chuyển hóa, đặc biệt với đề xuất PET/ MRI, đóng một vai trò quan trọng trong việc dự đoán kết quả điều trị và ra quyết định lâm sàng ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, do thiếu tài liệu, kết quả cần được nghiên cứu thêm.

1. Hình ảnh chụp cắt lớp phát xạ positron trong ung thư biểu mô tuyến ống tụy

Chụp cắt lớp phát xạ positron 18 F-fluorodeoxyglucose ( 18- F-FDG-PET) là một xét nghiệm chẩn đoán phản ánh tình trạng di truyền, phân tử, chuyển hóa và chức năng của tổn thương. Giá trị hấp thu tiêu chuẩn hóa tối đa (SUVmax) thu được bằng hình ảnh PET phản ánh sự chuyển hóa glucose của các khối u.

Choi và cộng sự đã khám phá mối quan hệ giữa đáp ứng điều trị sớm sau xạ trị hóa chất bổ trợ tân sinh bằng FDG-PET và kết quả phẫu thuật trong ung thư biểu mô tuyến ống tụy tiên tiến tại chỗ. Kết quả cho thấy FDG-PET rất hữu ích để theo dõi hiệu quả lâm sàng của điều trị bổ trợ tân sinh trong ung thư biểu mô tuyến ống tụy tiên tiến tại chỗ. Ở những bệnh nhân có đáp ứng khối u tốt (giảm ≥ 50% lượng SUV sau chu kỳ 1), phẫu thuật cắt bỏ đã được thực hiện. Lee và cộng sự đã nghiên cứu vai trò của PET/ CT 18 -F-FDG trước phẫu thuật trong việc dự đoán khả năng sống sót của bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến tụy. Kết quả cho thấy, thể tích khối u chuyển hóa và đường phân toàn bộ tổn thương là các yếu tố tiên lượng độc lập để dự đoán khả năng sống sót không tái phát cũng như hệ điều hành của bệnh nhân và PET/ CT cung cấp thông tin tiên lượng hữu ích cho bệnh nhân sau khi cắt bỏ ung thư biểu mô tuyến ống tụy với mục đích điều trị, bất kể điều trị bổ trợ tân sinh.

Gần đây, một số nghiên cứu đã nghiên cứu sâu hơn giá trị của SUVmax trong ung thư biểu mô tuyến ống tụy để đánh giá đáp ứng của khối u sau điều trị bổ trợ tân sinh. Kết quả cho thấy SUV max sau điều trị bổ trợ tân sinh có thể là một chỉ số hiệu quả để dự đoán tiên lượng và đáp ứng điều trị với điều trị bổ trợ tân sinh đối với ung thư biểu mô tuyến tụy. Hơn nữa, các thông số chuyển hóa sau điều trị của PET/ MRI cũng được báo cáo tương quan với đáp ứng bệnh lý. Tuy nhiên, cỡ mẫu của các nghiên cứu trên tương đối nhỏ (<50 trường hợp trong 2/3 bài báo) và kết quả không thuyết phục. Barnes và cộng sự đã thu nhận 201 bệnh nhân liên tiếp có ung thư biểu mô tuyến ống tụy cục bộ được điều trị bằng điều trị bổ trợ tân sinh. Kết quả cho thấy giá trị giới hạn SUVmax trước điều trị là 7,5 trên PET/ CT có thể dự đoán chính xác hệ điều hành. Kết quả từ Yokose và cộng sự cho thấy tiêu chí đáp ứng PET ở khối u rắn chính xác hơn trong việc xác định tác động điều trị bổ trợ tân sinh đối với ung thư biểu mô tuyến ống tụy so với tiêu chí RECIST (72,7% so với 36,4%), điều này mở ra một hướng mới cho nghiên cứu trong tương lai trong lĩnh vực này.
Việc áp dụng hình ảnh chụp cắt lớp PET chỉ ra rằng đáp ứng ung thư biểu mô tuyến ống tụy sau điều trị bổ trợ tân sinh đã thay đổi từ đánh giá hình thái sang đánh giá chuyển hóa, đặc biệt với đề xuất PET/ MRI, đóng một vai trò quan trọng trong việc dự đoán kết quả điều trị và ra quyết định lâm sàng ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, do thiếu tài liệu, kết quả cần được nghiên cứu thêm. Ngoài ra, các tiêu chí đáp ứng PET trong tiêu chí khối u đặc cần được so sánh với các tiêu chí đánh giá truyền thống trong các nghiên cứu tương lai.

hình ảnh chụp cắt lớp

Hình ảnh chụp cắt lớp giúp chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến ống tụy

2. Chụp CT tưới máu

Ung thư biểu mô tuyến ống tụy là một khối u giàu chất nền, được đặc trưng bởi sự hoạt hóa của các tế bào hình sao tuyến tụy, chúng lắng đọng một lượng lớn chất nền ngoại bào. Sự tích tụ của chất nền ngoại bào, bao gồm collagen, fibronectin, proteoglycan và axit hyaluronic, có thể gây ra sự hình thành chất nền ngoại bào cứng để nén các mạch máu, dẫn đến tổn thương tưới máu và cuối cùng là cản trở việc truyền thuốc chống ung thư đến các tế bào khối u.

Dựa trên các giả định lý thuyết trên, Hamdy và cộng sự đã khảo sát giá trị của CT tưới máu trong việc dự đoán đáp ứng của ung thư biểu mô tuyến ống tụy với hóa trị và xạ trị bổ trợ. Kết quả cho thấy những người tham gia đáp ứng với điều trị bổ trợ tân sinh có lưu lượng máu cơ bản cao hơn những người không đáp ứng (trung bình, tương ứng là 44 mL/ 100 g/ phút so với 28 mL/ 100 g/ phút). Ở những người đáp ứng, các thông số tưới máu tăng lên sau khi điều trị, trong khi không có thay đổi đáng kể nào về các thông số tưới máu ở những người không đáp ứng. Các tác giả gợi ý rằng, chụp CT tưới máu trước điều trị có thể hữu ích để dự đoán đáp ứng mô bệnh học của ung thư biểu mô tuyến ống tụy với điều trị bổ trợ tân sinh. Tuy nhiên, vai trò chính xác của hình ảnh tưới máu trong ung thư biểu mô tuyến ống tụy cần được đánh giá thêm ở một số lượng lớn bệnh nhân.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Tài liệu tham khảo: Zhang Y, Huang ZX, Song B. Role of imaging in evaluating the response after neoadjuvant treatment for pancreatic ductal adenocarcinoma. World J Gastroenterol 2021; 27(22): 3037-3049 [DOI: 10.3748/wjg.v27.i22.3037]

Write A Comment