Sức khỏe tổng quát

Tiên lượng ở các bệnh nhân có bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu không béo phì Update 07/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

<!– –>

Tỷ lệ mắc bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFLD) tăng lên đáng kể ở những người có chỉ số khối cơ thể (BMI) tương đối bình thường, tình trạng này được gọi là bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu không béo phì hoặc bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu ở người gầy. Bài viết dưới đây là các nghiên cứu về tiên lượng ở các bệnh nhân có bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu không béo phì

1. Các nghiên cứu với các kết quả chuyển hóa và lâm sàng

Trong một nghiên cứu thuần tập tiền cứu trên 307 bệnh nhân NAFLD từ Hồng Kông, Leung và cộng sự báo cáo rằng bệnh nhân không béo phì (23,5% bệnh nhân trong tổng số nhóm thuần tập) có tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hoá và tăng huyết áp thấp hơn cũng như điểm hoạt động NAFLD thấp hơn, các mảnh cytokeratin-18 trong huyết thanh và giảm độ cứng của gan dựa trên đo độ đàn hồi thoáng qua so với bệnh nhân béo phì. Đáng lưu ý, tử vong, ung thư biểu mô tế bào gan và suy gan chỉ xảy ra ở những bệnh nhân béo phì trong thời gian theo dõi 49 tháng.
Sự khác nhau về tỉ lệ tử vong
Ngược lại, một nghiên cứu của Hoa Kỳ trên 483 bệnh nhân NAFLD được sinh thiết xác nhận cho thấy bệnh nhân NAFLD gầy (BMI <25 kg / m 2 ) có tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn bệnh nhân không gầy trong thời gian theo dõi 133 tháng, mặc dù họ có tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường type 2, hội chứng chuyển hoá, tăng triglycerid máu và tăng huyết áp thấp hơn, và xơ hóa ít tiến triển hơn. Đáng chú ý, ngay cả sau khi điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn, NAFLD gầy vẫn là một yếu tố nguy cơ độc lập (HR: 11,8) đối với tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn. Trong nghiên cứu NHANES, Zou và cộng sự cũng báo cáo rằng NAFLD không béo phì (BMI <30 kg / m 2 đối với người không phải là người châu Á và <27 kg / m 2 đối với người Châu Á) bệnh nhân có tỷ lệ mắc các bệnh đi kèm chuyển hóa, xơ hóa nặng hơn và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch và ung thư cao hơn và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn so với NALFD béo phì. Tuy nhiên, những phát hiện này không được xác nhận trong một phân tích đa biến, trong đó chỉ có bệnh đái tháo đường type 2 và giai đoạn xơ hóa là các yếu tố nguy cơ độc lập gây tử vong.

Cuối cùng, trong một nghiên cứu thuần tập hồi cứu trên 646 bệnh nhân NAFLD ở Thụy Điển, Hagström và cộng sự báo cáo rằng bệnh nhân NAFLD gầy (BMI <25 kg / m 2 ) có nguy cơ xơ gan, xơ gan mất bù và HCC cao hơn so với thừa cân (25 kg / m 2 ≤ BMI <30 kg / m2) bệnh nhân, không phụ thuộc vào các yếu tố gây nhiễu; tử vong do mọi nguyên nhân không khác nhau giữa 2 nhóm. Đáng chú ý, bệnh nhân gầy có mức Triglyceride và đường huyết lúc đói huyết thanh thấp hơn cũng như tỷ lệ lưu hành NASH thấp hơn và giai đoạn xơ hóa thấp hơn.

Chẩn đoán tình trạng xơ hóa gan ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu

Chẩn đoán tình trạng xơ hóa gan ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu không béo phì

2. Tiên lượng ở các bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu không béo phì / gầy

Có vẻ nghịch lý là hầu hết các nghiên cứu, mặc dù không phải tất cả, báo cáo một tiên lượng xấu hơn ở bệnh nhân bị NAFLD không béo phì / gầy so với bệnh nhân NAFLD béo phì. Zou và cộng sự cho rằng kết quả xấu hơn của bệnh nhân NAFLD không béo phì là do giai đoạn xơ hóa tiến triển và tần suất mắc bệnh chuyển hóa cao hơn ở nhóm này. Hagström và cộng sự suy đoán rằng khuynh hướng di truyền và lối sống không lành mạnh có liên quan đến kết quả tồi tệ hơn liên quan đến gan của bệnh nhân NAFLD gầy. Một lời giải thích khác có thể là trong tất cả các nghiên cứu, BMI được sử dụng như một dấu hiệu đại diện để xác định các ngưỡng gầy hoặc béo phì. Tuy nhiên, BMI không phải là một dấu hiệu cụ thể của béo bụng; chu vi vòng eo phản ánh chính xác hơn phần mỡ mỡ nội tạng. Tuy nhiên, ngay cả chu vi vòng eo cũng không thể phân biệt nội tạng với mỡ dưới da và không thể cho phép định lượng các phần mô mỡ. Do đó, các dấu hiệu chính xác hơn về béo bụng, chẳng hạn như chụp cộng hưởng từ (MRI), có thể hữu ích trong việc phân biệt giữa bệnh nhân NAFLD béo phì và gầy. Thật vậy, MRI được coi là một công cụ định lượng và chính xác hơn để đánh giá mô mỡ nội tạng. Do đó, cả định nghĩa NAFLD gầy / không béo phì và việc phân loại bệnh nhân thành gầy / không béo phì hoặc béo phì nên được dựa trên MRI trong tương lai gần để khắc phục hạn chế của các định nghĩa dựa trên BMI hiện tại.

Kết luận

Mặc dù NAFLD có liên quan chặt chẽ đến béo phì và các bệnh đi kèm liên quan, một tỷ lệ đáng kể đối tượng gầy cũng có thể phát triển NAFLD. Béo phì nội tạng trái ngược với béo phì nói chung, khuynh hướng di truyền, chế độ ăn uống không lành mạnh bao gồm lượng cholesterol cao và lượng đường fructose có thể liên quan đến NAFLD gầy. Mặc dù bệnh nhân gầy có tiên lượng xấu hơn nhưng có cấu trúc trao đổi chất khỏe mạnh hơn bệnh nhân béo phì với NAFLD, chúng ta nên nhớ rằng việc phân loại thành nhóm gầy hoặc béo phì hiện nay chủ yếu dựa trên BMI chứ không phải dựa trên đánh giá khối lượng mỡ nội tạng. Do đó, việc sử dụng MRI như một công cụ chẩn đoán định lượng và đáng tin cậy để đánh giá sự hiện diện và mức độ nghiêm trọng của béo bụng ở bệnh nhân NAFLD có thể hữu ích. Hiện nay, các can thiệp về lối sống bao gồm giảm cân, hoạt động thể chất và một chế độ ăn uống lành mạnh hơn dường như có tác động có lợi đối với NAFLD gầy. Ngoài ra, các biện pháp can thiệp giấc ngủ và dược liệu pháp cùng với việc quản lý chặt chẽ các bệnh đi kèm cũng nên được kết hợp trong việc quản lý bệnh này. Không nghi ngờ gì nữa, NAFLD gầy đặt ra nhiều thách thức vì sinh lý bệnh và lịch sử tự nhiên của bệnh chưa được nghiên cứu rộng rãi và các bác sĩ nên có sự nghi ngờ lâm sàng cao để xác định những cá nhân có nguy cơ mắc NAFLD gầy thiếu kiểu hình chung, dễ nhận biết là béo phì.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, Quý khách có thể Đăng ký tư vấn từ xa TẠI ĐÂY

Comments are closed.