Sức khỏe tổng quát

Nhiễm H.pylori và các bệnh da liễu, tự miễn Update 07/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park

<!– –>

Mặc dù nhiễm H. pylori thường liên quan đến các biểu hiện ở dạ dày, nhưng ngày càng có nhiều bằng chứng thu hút sự chú ý đến vai trò của nó đối với các bệnh ngoài dạ dày. Một số nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa nhiễm H.pylori và các bệnh da liễu, tự miễn.

1. Bệnh da liễu và bệnh tự miễn

Một số nghiên cứu cho thấy mối liên quan và mối quan hệ nhân quả có thể có của việc nhiễm H. pylori trong một số bệnh da liễu. Trong đó, bệnh trứng cá đỏ và một số bệnh miễn dịch như ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn, bệnh vẩy nến, rụng tóc từng mảng, và mày đay là những bệnh được nghiên cứu nhiều nhất. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy rõ ràng rằng khả năng liên quan đáng kể với việc nhiễm H. pylori chỉ xảy ra ở một số bệnh này, trong khi nhiều bệnh trong số đó đã thu được các kết quả trái ngược nhau, đòi hỏi phải được nghiên cứu thêm với các phương pháp luận và thiết kế thống kê thích hợp hơn. Đối với các bệnh tự miễn, chúng được đặc trưng bởi sự rối loạn điều hòa của hệ thống miễn dịch, dẫn đến mất khả năng dung nạp với các kháng nguyên tự động. Người ta tin rằng những căn bệnh này có căn nguyên đa biến và các tác nhân lây nhiễm có thể gây ra chúng. Đáp ứng miễn dịch chống lại H. pylori có thể tạo ra tình trạng viêm có khả năng dẫn đến sự phát triển của các kháng thể phản ứng chéo. Rosacea là một bệnh mãn tính với các biểu hiện ngoài da như ban đỏ ở mặt, phù nề, sẩn, mụn nước và mụn mủ thường nằm ở trung tâm của khuôn mặt.

Nhiễm H. pylori và bệnh rosacea

Mối liên hệ nguy cơ đã được quan sát thấy giữa nhiễm H. pylori và bệnh rosacea, và việc điều trị nhiễm vi khuẩn này làm giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng của rối loạn da liễu đó. Các tác giả khác cũng quan sát thấy kết quả tương tự và bắt đầu khuyến cáo rằng bệnh nhân mắc bệnh rosacea dương tính với H. pylori nên được điều trị bằng phương pháp diệt trừ vi khuẩn. Tuy nhiên, một phân tích tổng hợp kết luận rằng mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả là yếu giữa bệnh này và Nhiễm H. pylori (OR = 1,68, KTC 95%: 1,100-2,84, P = 0,052) và liệu pháp tiệt trừ H. pylori không đạt được ý nghĩa thống kê cần thiết cho khuyến cáo hàng loạt, (RR = 1,28, KTC 95%: 0,98 -1,67, P = 0,069). Sự tương phản của các kết quả được tìm thấy trong tài liệu có thể liên quan, trong số những thứ khác, với sự khác biệt lớn trong các thiết kế phương pháp luận và thống kê được sử dụng.

tinh-trang-ung-do-cua-da-rosacea

Nhiễm H. pylori và bệnh rosacea khi điều trị làm giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng của rối loạn da liễu

Nhiễm H. pylori và bệnh vẩy nến

Bệnh vẩy nến là một bệnh viêm da mãn tính, không lây, có đặc điểm di truyền và tự miễn dịch ảnh hưởng đến da và khớp. Mối liên quan của nó với nhiễm H. pylori đã được nghiên cứu với việc tìm kiếm các kháng thể chống lại H. pylori ở những bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến mà không có các khiếu nại về đường tiêu hóa đã biết. Gần đây, một phân tích tổng hợp đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ chứng minh mối liên quan này (OR = 1,19, KTC 95%: 1,15-2,52, P = 0,008) và nhấn mạnh rằng tỷ lệ nhiễm H. pylori , thú vị là, cao đáng kể ở những bệnh nhân có mức độ trung bình. và bệnh vẩy nến nặng (OR = 2,27; KTC 95%: 1,42-3,63, I 2= 27%) nhưng không xảy ra ở những bệnh nhân mắc bệnh nhẹ hơn (OR = 1,10; KTC 95%: 0,79-1,54, I 2 = 0%). Một bệnh khác thường liên quan đến nhiễm H. pylori là mày đay mãn tính, một tình trạng lâm sàng biểu hiện mày đay ngứa, ban đỏ hoặc sưng tấy. Các nghiên cứu cho thấy bằng chứng mâu thuẫn về mối liên hệ nguyên nhân – kết quả của H. pylori với bệnh mề đay mãn tính. Điều thú vị là, một phân tích tổng hợp cho thấy sự cải thiện của bệnh mề đay mãn tính không liên quan trực tiếp đến việc loại bỏ H. pylori, nhưng với liệu pháp kháng sinh được sử dụng, và ngay cả khi việc điều trị không hiệu quả, sự thuyên giảm đáng kể của bệnh mề đay mãn tính đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân này.

Nhiễm H. pylori và rụng tóc từng mảng

Rụng tóc từng mảng (AA), một bệnh tự miễn, dẫn đến rụng tóc và có thể biểu hiện một cách khác nhau ở những người bị ảnh hưởng. Có rất ít nghiên cứu được công bố về mối liên quan của AA với nhiễm H. pylori. Trong một nghiên cứu bệnh chứng ở Iran, một mối liên hệ rủi ro có ý nghĩa thống kê đã được quan sát (OR = 2,263, KTC 95%: 1,199-4,273); tuy nhiên, những hạn chế của nghiên cứu như không có khả năng kiểm soát một số biến gây nhiễu đã làm suy yếu bằng chứng này.

Nhiễm H. pylori và ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn

Ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn (ITP) là một tình trạng là kết quả của sự phá hủy tiểu cầu của cá nhân qua trung gian kháng thể kháng tiểu cầu. Một số nghiên cứu liên kết mối quan hệ giữa nhiễm H. pylori và ITP. Mặc dù cơ chế bệnh sinh liên quan đến quá trình này là không thể kết luận, một số tác giả cho rằng CagA kích thích sự tổng hợp các kháng thể kháng CagA phản ứng chéo với các kháng nguyên bề mặt tiểu cầu gây ra ITP. Mối tương quan đầu tiên của khả năng sinh bệnh này là quan sát thấy sự gia tăng số lượng tiểu cầu của bệnh nhân sau khi tiệt trừ H. pylori. Các nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện để đánh giá sự thuyên giảm của PTI sau khi điều trị nhiễm H. pylori.

Tiểu cầu

Nhiễm H. pylori và ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn liên quan đến sự gia tăng số lượng tiểu cầu

Một nghiên cứu tiềm năng của Brazil đã chứng minh sự gia tăng tiểu cầu sau khi diệt trừ vi khuẩn ở một phần bệnh nhân dương tính với H. pylori với ITP. Ngoài ra, sự giảm đáng kể mức độ cytokine của các cấu hình tiền viêm Th1 và Th17 cũng như sự gia tăng các cytokine chống viêm liên kết với các tế bào T điều hòa (Treg) và Th2 đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân bị nhiễm ITP trong đó tăng số lượng tiểu cầu sau khi tiệt trừ H. pylori. Một phân tích tổng hợp được công bố gần đây chứng thực hiệu quả điều trị đáng kể mà H. pylori tiệt trừ được trên bệnh nhân ITP và gợi ý rằng bằng chứng này có thể được tính đến trong điều trị lâm sàng của bệnh nhân ITP (OR = 1,93, KTC 95%: 1,01-3,71, P = 0,05). Nghiên cứu này đưa ra những điểm yếu vì nó bao gồm các nghiên cứu với một số lượng cá nhân hạn chế, một số nghiên cứu với người lớn và bao gồm một số biến thể nhỏ của các sắc tộc. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhấn mạnh là việc điều tra và loại trừ nhiễm H. pylori đã được khuyến cáo trong các hướng dẫn quản lý lâm sàng của ITP

2. Kết luận

Các nghiên cứu sâu hơn là cần thiết để đánh giá xem loại bỏ vi khuẩn có thể là một phương pháp điều trị thay thế phù hợp trong một số lượng lớn các vấn đề sức khỏe hay không. Cuối cùng, sự liên kết có lợi của H. pylori nhiễm một số bệnh ngoài dạ dày cần được nghiên cứu trong tương lai để đánh giá việc sử dụng vi khuẩn và các sản phẩm của nó trong các phác đồ điều trị và dự phòng mới.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Tài liệu tham khảo

Santos MLC, de Brito BB, da Silva FAF, Sampaio MM, Marques HS, Oliveira e Silva N, de Magalhães Queiroz DM, de Melo FF. Helicobacter pylori infection: Beyond gastric manifestations. World J Gastroenterol 2020; 26(28): 4076-4093 [PMID: 32821071 DOI: 10.3748/wjg.v26.i28.4076]

Comments are closed.