Sức khỏe tổng quát

Liệu pháp kháng vi-rút dựa trên interferon trong điều trị viêm gan siêu vi C và bệnh đái tháo đường Update 07/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

Bài viết được viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương – Bác sĩ nội soi tiêu hóa – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

<!– –>

Các quan sát cho thấy những thay đổi về chuyển hóa, chẳng hạn như kháng insulin và đái tháo đường (DM), sẽ giảm ở một mức độ nào đó sau khi thanh thải virus viêm gan siêu vi C. Đặc biệt là liệu pháp kháng virus dựa trên interferon đã được chứng minh làm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường.

1. Tổng quan

Mối liên quan giữa nhiễm viêm gan C mãn tính và các biểu hiện ngoài gan (EHM), đặc biệt là bệnh về chuyển hóa tim, đã được nghiên cứu rộng rãi. Tuy nhiên, vẫn chưa có đánh giá đầy đủ đối với các các biểu hiện ngoài gan này sau khi chữa khỏi bằng virus. Một số cơ chế đa hướng đã được đề xuất giải thích khả năng phát triển các biểu hiện ngoài gan của virus viêm gan siêu vi C (HCV), cơ chế chuyển hóa tim cũng như tác dụng của liệu pháp kháng virus để giải quyết các biểu hiện ngoài gan này. Dữ liệu về những biểu hiện này sau khi đạt được đáp ứng virus học bền vững (SVR) vẫn còn mâu thuẫn. Tuy nhiên, các bằng chứng hiện tại cho thấy, tình trạng thoái hóa mỡ gan và hạ cholesterol máu cùng tồn tại của nó sau khi diệt trừ virus thành công đã dẫn đến việc chuyển hóa lipid không thuận lợi, làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch (CVD).

Các loại viêm gan siêu vi

Các loại viêm gan siêu vi C

2. Tình hình nhiễm viêm gan C trên thế giới

Nhiễm viêm gan C mãn tính có liên quan đến tỷ lệ mắc và tử vong đáng kể trên toàn cầu, ảnh hưởng đến khoảng 2,5% cá nhân (tương đương 177,5 triệu người) trên toàn thế giới. Nó hiện là một trong những căn nguyên hàng đầu của ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) và xơ gan mất bù cần ghép gan ở các nước phương Tây. Mục tiêu chính của điều trị là đạt được sự chữa khỏi nhiễm trùng hoặc đáp ứng virus kéo dài (đáp ứng virus học bền vững), được định nghĩa là HCV RNA không phát hiện được trong huyết thanh 12 hoặc 24 tuần sau khi kết thúc điều trị. Kể từ khi giới thiệu các thuốc kháng virus tác động trực tiếp thế hệ đầu tiên (DAAs), boceprevir và telaprevir thì vào năm 2011, bệnh nhân nhiễm viêm gan siêu vi C đạt được đáp ứng virus kéo dài ngày càng gia tăng nhanh chóng.

3. Vai trò của diệt trừ virus viêm gan siêu vi C

Diệt trừ virus có liên quan đến việc giảm rõ rệt nguy cơ mắc bệnh gan giai đoạn cuối, nhu cầu ghép gan và tử vong. Mặc dù HCV là một loại virus hướng gan, trong hai thập kỷ, một số nghiên cứu đã mô tả mối liên quan giữa HCV và một mảng biểu hiện ngoài gan không đồng nhất (các biểu hiện ngoài gan).

Tuy nhiên, cơ chế mà virus gây ra các bệnh hệ thống vẫn còn được làm sáng tỏ. Các thay đổi nội tiết-chuyển hóa, thường thấy nhất ở bệnh nhân nhiễm viêm gan siêu vi C, được cho là do tác động trực tiếp và gián tiếp làm rối loạn chuyển hóa lipid, glucose của vật chủ cũng như sự thay đổi trong các tế bào mỡ giải phóng từ mô mỡ.

Tương tự như vậy, nhiễm trùng viêm gan C cũng được xác định là một yếu tố dự báo độc lập cho các biến cố tim mạch, như xơ vữa động mạch cảnh, đột quỵ, thiếu máu cục bộ cơ timsuy tim, tất cả đều có liên quan đến kết quả kém. Tuy nhiên, tác động lên bệnh tim mạch (nguy cơ bệnh tim mạch) vẫn chưa được thiết lập đầy đủ. Trên lâm sàng, tiên lượng của nhiễm viêm gan C không chỉ phụ thuộc vào các kết cục liên quan đến gan mà còn phụ thuộc vào các di chứng ngoài gan.

Các biểu hiện tại gan và ngoài gan liên quan đến nhiễm virus viêm gan C và ảnh hưởng của đáp ứng virus kéo dài trên các biểu hiện chuyển hóa tim

Các biểu hiện tại gan và ngoài gan liên quan đến nhiễm virus viêm gan C

4. Thay đổi về chuyển hóa sẽ giảm mức độ nào đó sau thanh thải virus

Hầu hết các quan sát cho thấy những thay đổi về chuyển hóa, chẳng hạn như kháng insulinđái tháo đường (DM), sẽ giảm ở một mức độ nào đó sau khi thanh thải virus. Những thay đổi này dường như phụ thuộc vào kiểu gen HCV. Liệu pháp kháng virus dựa trên interferon và thuốc kháng virus tác động trực tiếp đã được chứng minh là giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường. Các nghiên cứu dịch tễ học lớn khảo sát ảnh hưởng của đáp ứng virus kéo dài đối với bệnh tim mạch cho thấy có sự khác biệt lớn về mặt kết quả. Những phát hiện chủ yếu chỉ ra rằng, các biến cố nguy cơ bệnh tim mạch giảm ở bệnh nhân có đáp ứng virus kéo dài so với người không đáp ứng hoặc không được điều trị.

5. Liệu pháp kháng virus dựa trên interferon làm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường

Liệu pháp kháng virus dựa trên interferon và thuốc kháng virus tác động trực tiếp đã được chứng minh là giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường. Các nghiên cứu dịch tễ học lớn khảo sát ảnh hưởng của đáp ứng virus kéo dài đối với bệnh tim mạch cho thấy có sự khác biệt lớn về mặt kết quả, với những phát hiện chủ yếu chỉ ra rằng các biến cố nguy cơ bệnh tim mạch giảm ở bệnh nhân có đáp ứng virus kéo dài so với người không đáp ứng hoặc không được điều trị. Trong bài tổng quan này, các tác giả trình bày tóm tắt những kiến ​​thức hiện tại liên quan đến di chứng ngoài gan của nhiễm viêm gan siêu vi C sau đáp ứng virus học bền vững, có thể có tác động đến thực hành lâm sàng của nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Các nghiên cứu dịch tễ học lớn khảo sát ảnh hưởng của đáp ứng virus kéo dài đối với bệnh tim mạch cho thấy có sự khác biệt lớn về mặt kết quả, với những phát hiện chủ yếu chỉ ra rằng các biến cố nguy cơ bệnh tim mạch giảm ở bệnh nhân có đáp ứng virus kéo dài so với người không đáp ứng hoặc không được điều trị.

Tóm lại, nhiều bằng chứng cho thấy, nhiễm viêm gan siêu vi C có tỷ lệ cao mắc bệnh tim mạch và thay đổi chuyển hóa như rối loạn lipid máu, gan nhiễm mỡ, kháng insulin (đề kháng insulin), béo phì và đái tháo đường.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Tài liệu tham khảo:
Shengir M, Elgara M, Sebastiani G. Các biến chứng về chuyển hóa và tim mạch sau khi chữa khỏi bằng virus viêm gan C: Điều gì còn chờ đợi ở phía sau. World J Gastroenterol 2021; 27 (17): 1959-1972 [DOI: 10.3748 / wjg.v27.i17.1959]

Comments are closed.