Sức khỏe tổng quát

Ghép gan cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có bệnh thận mãn tính Update 07/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

Bài viết được viết bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương – Bác sĩ nội soi tiêu hóa – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

<!– –>

Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu đã phổ biến hơn và trở thành nguyên nhân phổ biến nhất cho ghép gan. Bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu có tỷ lệ mắc bệnh thận mãn tính cao hơn so với các nguyên nhân khác, do đó viêm gan nhiễm mỡ không do rượu là nguyên nhân dẫn đến chỉ định ghép gan-thận đồng thời.

1. Tổng quan

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu bao gồm một phổ bệnh gan mãn tính, từ nhiễm mỡ ở một đầu đến xơ hóa và xơ gan ở đầu kia. Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH) là biểu hiện của hội chứng chuyển hóa (MetS) dẫn đến vô số bệnh đi kèm, chẳng hạn như kháng insulin, bệnh tim mạch (CVD), bệnh thận mãn tính, tắc nghẽn, ngưng thở khi ngủ (OSA) và làm tăng nguy cơ bệnh ác tính.

Trong khi viêm gan nhiễm mỡ không do rượu là chỉ định thứ hai để ghép gan thì người ta hy vọng rằng, viêm gan nhiễm mỡ không do rượu sẽ vượt qua virus viêm gan C (nguyên nhân hàng đầu ghép gan) do hiệu quả của liệu pháp kháng virus tác động trực tiếp.

Hội chứng chuyển hóa

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là biểu hiện của hội chứng chuyển hóa

2. Gan nhiễm mỡ không do rượu có nguy cơ phát triển bệnh thận mãn tính

Sự phổ biến của các bệnh lý đi kèm cùng với cơ chế gây bệnh trực tiếp liên kết bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có nguy cơ phát triển bệnh thận mãn tính. Tuy nhiên, có rất ít lựa chọn để điều trị cho nhóm bệnh nhân này. Bất kể các chiến lược có thể được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm giám sát, phòng ngừa và quản lý.
Về mối liên quan giữa gan nhiễm mỡ không do rượu với bệnh thận mãn tính, một nghiên cứu dịch tễ học gần đây đã xác nhận xu hướng giảm của ghép gan liên quan đến virus viêm gan C ở Hoa Kỳ. Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có liên quan chặt chẽ đến tình trạng kháng insulin cơ bản và các bệnh đi kèm khác. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu là một yếu tố nguy cơ của bệnh thận mãn tính do các yếu tố nguy cơ chuyển hóa được chia sẻ.

Đáng lưu ý, một số nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa mức độ nghiêm trọng của viêm gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh thận mãn tính. Một phân tích tổng hợp của 33 nghiên cứu cho thấy, tình trạng tiểu đường và các yếu tố nguy cơ chuyển hóa không có tác động đến mối tương quan giữa mức độ nghiêm trọng của viêm gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh thận mãn tính.

3. Ghép gan cho bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu có bệnh thận mãn tính

Trong những thập kỷ gần đây, viêm gan nhiễm mỡ không do rượu đã phổ biến hơn và trở thành nguyên nhân phổ biến nhất cho ghép gan. Bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu có tỷ lệ mắc bệnh thận mãn tính cao hơn so với các nguyên nhân khác, do đó viêm gan nhiễm mỡ không do rượu là nguyên nhân dẫn đến chỉ định ghép gan-thận đồng thời (SLKT) ở Hoa Kỳ.

Tình trạng lọc máu là những thành phần quan trọng của mô hình bệnh gan giai đoạn cuối (MELD). Xét tăng tỷ lệ rối loạn chức năng thận ghép gan do ưu tiên dựa trên hệ thống phân bổ MELD tại Hoa Kỳ, tỷ lệ SLKT tăng từ 2,7% của tất cả các ghép gan năm 2000 xuống còn 9,3% vào năm 2016. Viêm gan nhiễm mỡ không do rượu hiện là chỉ dẫn hàng đầu và phát triển nhanh nhất cho SLKT ở Hoa Kỳ, với mức tăng 200% cho SLKT từ năm 2002 đến năm 2010. Bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu có xác suất cao phải trải qua SLKT hơn là ghép gan đơn thuần, vì họ rất dễ bị bệnh thận mãn tính trong một thời gian dài, có thể đáp ứng các tiêu chí cho SLKT (bệnh nhân bệnh thận mãn tính: GFR ≤ 60 mL/phút trong ≥ 3 tháng với GFR gần đây ≤ 30 mL/phút hoặc đang chạy thận nhân tạo; bệnh nhân AKI: Lọc máu trong> 6 tuần GFR ≤ 25 trong> 6 tuần).

Những bệnh nhân bị viêm gan nhiễm mỡ không do rượu có liên quan độc lập với nguy cơ mắc bệnh thận mạn tính cao hơn hoặc tổn thương thận tiến triển sau ghép gan so với những bệnh nhân không có viêm gan nhiễm mỡ không do rượu. Nói chung, rối loạn chức năng thận sau ghép gan không chỉ bị ảnh hưởng bởi các thuốc ức chế miễn dịch (đặc biệt là thuốc ức chế calcineurin), rối loạn chức năng thận trước ghép gan, mà còn các bệnh đồng chuyển hóa dai dẳng hoặc de novo như tăng huyết áp, tiểu đường và béo phì – tất cả đều có khả năng xảy ra cao ở bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu đang trải qua ghép gan.

Vì vậy, cần chú ý đặc biệt đến việc nhận biết bệnh thận mãn tính đối với bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu khi quyết định ghép gan SLKT. Kiểm soát các biến chứng chuyển hóa và tránh hoặc duy trì liều lượng thấp chất ức chế calcineurin càng nhiều càng tốt là cực kỳ quan trọng, điều này sẽ làm giảm nguy cơ biến chứng bệnh thận mãn tính và nguy cơ tiến triển bệnh thận mãn tính sau ghép gan ở bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu.

Ghép tế bào gốc cho bệnh nhân bị xơ gan

Bệnh nhân viêm gan nhiễm mỡ không do rượu thường được chỉ định điều trị bằng phương pháp ghép gan

4. Tầm quan trọng của việc giám sát sớm và kiểm soát yếu tố nguy cơ

Mặc dù có nhiều nghiên cứu, những việc quản lý bệnh nhân mắc viêm gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh thận mãn tính theo hướng dẫn tối thiểu vẫn có sẵn. Tuy nhiên, các mối liên hệ quan trọng gây bệnh cũng như yếu tố nguy cơ chung giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh thận mãn tính đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giám sát sớm, kiểm soát chặt chẽ yếu tố nguy cơ chuyển hóa chung.

Mặc dù các chiến lược phòng ngừa bệnh thận mãn tính trong viêm gan nhiễm mỡ không do rượu còn hạn chế, tuy nhiên việc điều trị trong tương lai hy vọng sẽ cải thiện sự tiến triển của rối loạn chức năng thận ở những bệnh nhân bị ảnh hưởng. Có rất nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành, nếu những loại thuốc này cho thấy sự an toàn và hiệu quả trong việc cải thiện viêm gan nhiễm mỡ không do rượu, chúng có thể chuyển thành cải thiện chức năng thận.

Các biện pháp can thiệp cụ thể để ngăn ngừa tiến triển bệnh thận mãn tính bằng cách sử dụng chất ức chế SG ghép gan 2, chất chủ vận PPAR, chất ức chế SAM, XO và Vitamin D đã được thử nghiệm nhưng cần được xác nhận thêm.

Tuy nhiên, đối với người bệnh bị viêm gan không do rượu có rối loạn chức năng thận thì cần được can thiệp điều trị sớm. Các liên kết di truyền giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh thận mãn tính cũng đã được đề xuất, cụ thể là ở alen G của PNPLA3, alen T của TM6SF2. Các nghiên cứu trong tương lai hướng đến những bệnh nhân có cấu trúc di truyền như vậy để ngăn chặn sự tiến triển thành bệnh thận mạn tính là cần thiết.

Tóm lại, kiểm tra sức khỏe định kỳ giúp phát hiện sớm bệnh tật, từ đó có kế hoạch điều trị đạt kết quả tối ưu. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có các gói Khám sức khỏe tổng quát phù hợp với từng độ tuổi, giới tính và nhu cầu riêng của quý khách hàng với chính sách giá hợp lý.

Kết quả khám của người bệnh sẽ được trả về tận nhà. Sau khi nhận được kết quả khám sức khỏe tổng quát, nếu phát hiện các bệnh lý cần khám và điều trị chuyên sâu, Quý khách có thể sử dụng dịch vụ từ các chuyên khoa khác ngay tại Bệnh viện với chất lượng điều trị và dịch vụ khách hàng vượt trội.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Tài liệu tham khảo:

Heda R, Yazawa M, Shi M, Bhaskaran M, Aloor FZ, Thuluvath PJ, Satapathy SK. Gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh thận mãn tính: Nhìn lại, nhìn nhận nội tâm và triển vọng. World J Gastroenterol 2021; 27 (17): 1864-1882 [DOI: 10.3748 / wjg.v27.i17.1864]

Comments are closed.