Sức khỏe tổng quát

Dự phòng, đánh giá nguy cơ và điều trị huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy Update 07/2021

Pinterest LinkedIn Tumblr

<!– –>

Bài viết của Thạc sĩ, Bác sĩ Mai Viễn Phương – Bác sĩ nội soi tiêu hóa – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park.

Ung thư tuyến tụy (PC) là một bệnh ác tính nguy hiểm với ít hơn 10% bệnh nhân còn sống sau 5 năm kể từ khi được chẩn đoán. Huyết khối tĩnh mạch xảy ra ở khoảng 20% ​​bệnh nhân ung thư tuyến tụy, dẫn đến tăng tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và chi phí chăm sóc sức khỏe đáng kể. Do đó, việc dự phòng, đánh giá cũng như điều trị huyết khối tĩnh mạch đặc biệt khó khăn ở những bệnh nhân này.

1. Khi nào nên xem xét dự phòng nguyên phát huyết khối ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy?

1.1. Đối với bệnh nhân ung thư tuyến tụy phẫu thuật

Dự phòng huyết khối kéo dài sau phẫu thuật lớn ở bụng đã được chứng minh là làm giảm tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch khoảng 50%. Tất cả các hướng dẫn thực hành lâm sàng hiện tại đều khuyến cáo sử dụng dự phòng huyết khối ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy phẫu thuật. Ở những người được phẫu thuật mở ổ bụng hoặc phẫu thuật nội soi không có chống chỉ định với heparin trọng lượng phân tử thấp, liều dự phòng heparin trọng lượng phân tử thấp cao nhất nên được sử dụng trong thời gian kéo dài 4 tuần (khuyến cáo mức 1A).

Riêng thiết bị nén bên ngoài chỉ nên được sử dụng ở những bệnh nhân có chống chỉ định với thuốc chống đông máu (khuyến cáo mức 2B). Các bộ lọc tĩnh mạch chủ kém hơn không nên được sử dụng một cách có hệ thống trong môi trường này (mức 1A). Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch nên được cân bằng với nguy cơ chảy máu cạnh tranh. Nhiều yếu tố như bệnh tiến triển hoặc di căn, lớn tuổi, thiếu máu, giảm tiểu cầu, suy thận, rối loạn chức năng gan và các liệu pháp chống ung thư đồng thời có thể làm tăng nguy cơ chảy máu tổng thể và cần được tính đến. Việc đánh giá cẩn thận từng hồ sơ cá nhân được đảm bảo để vượt qua các thách thức quản lý.

1.2. Đối với bệnh nhân ung thư tuyến tụy nhập viện

Bệnh cấp tính và nghỉ ngơi trên giường quá nhiều là yếu tố làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy nhập viện. Mặc dù không có nghiên cứu lớn chứng minh cụ thể lợi ích của dự phòng huyết khối ở bệnh nhân nội trú ung thư, nhưng ở bệnh nhân nội trú không ung thư đã cho thấy heparin trọng lượng phân tử thấp cải thiện khả năng sống sót và giảm huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân nội khoa nhập viện với tình trạng bệnh cấp tính. ITAC hướng dẫn thực hành lâm sàng khuyến nghị sử dụng heparin trọng lượng phân tử thấp ở liều dự phòng, heparin không phân đoạn (UFH) hoặc Fondaparinux ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy nội trú không có chống chỉ định với thuốc chống đông máu (khuyến cáo mức1B).

1.3. Bệnh nhân ung thư tuyến tụy cấp cứu

Hầu hết bệnh nhân ung thư phát triển huyết khối tĩnh mạch trong điều kiện ngoại trú. Lợi ích lâm sàng của dự phòng nguyên phát huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy tiến triển đã được khẳng định trong hai nghiên cứu quan trọng đề cập đến hiệu quả và độ an toàn của heparin trọng lượng phân tử thấp. Dựa trên kết quả của hai thử nghiệm này, ITAC hướng dẫn thực hành lâm sàng khuyến nghị sử dụng dự phòng huyết khối chính bằng heparin trọng lượng phân tử thấp ở những bệnh nhân ung thư tuyến tụy nâng cao cấp cứu đang được hóa trị với mức 1B kể từ năm 2013.

Thử nghiệm FRAGEM đã chọn ngẫu nhiên 123 bệnh nhân ung thư tuyến tụy nâng cao nhận gemcitabine cộng với liều điều trị điều chỉnh theo cân nặng của dalteparin trong 12 tuần hoặc đơn thuần gemcitabine. Các tiêu chí tổng hợp là tỷ lệ các biến cố huyết khối tĩnh mạch được chẩn đoán ngẫu nhiên hoặc có triệu chứng trong thời gian chống đông 12 tuần và tỷ lệ các biến cố huyết khối tĩnh mạch được chẩn đoán ngẫu nhiên hay có triệu chứng trong suốt thời gian theo dõi tổng thể. Tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch thấp hơn đáng kể ở nhóm dalteparin (3,4% so với 23% ở nhóm chứng, tỷ lệ rủi ro 0,145, KTC 95%: 0,035-0,612, P= 0,002), kết quả là NNT ở 6 bệnh nhân để ngăn ngừa 1 biến cố huyết khối tĩnh mạch. Không có trường hợp tử vong do huyết khối tĩnh mạch nào xảy ra ở nhóm dalteparin so với 5 (8,3%) trường hợp tử vong do huyết khối tĩnh mạch ở nhóm đối chứng. Tỷ lệ chảy máu nhiều không khác biệt giữa 2 nhánh và thấp hơn 3%, chỉ có 2 bệnh nhân bị chảy máu nhiều cần ngừng thuốc kháng đông. Đáng lưu ý, bệnh nhân dùng dalteparin bị chảy máu nhẹ hơn, như bầm tím da hoặc chảy máu cam (9% so với 3% ở nhóm dùng gemcitabine đơn thuần). Không có sự khác biệt về PFS hoặc OS giữa hai nhánh.

Tuy nhiên, dự phòng nguyên phát huyết khối ban đầu được ước tính làm giảm đáng kể nguy cơ này. Gần đây, một tổng quan hệ thống và phân tích đã tổng hợp dữ liệu từ 1003 bệnh nhân ung thư tuyến tụy được ghi danh vào 5 nghiên cứu nói trên. Dự phòng huyết khối ban đầu được ước tính làm giảm đáng kể nguy cơ huyết khối tĩnh mạch có triệu chứng khoảng 69%, dẫn đến NTT là 11,9 để ngăn ngừa một biến cố huyết khối tĩnh mạch mà không làm tăng nguy cơ chảy máu lớn. Các phân tích độ nhạy cho thấy, dự phòng ban đầu bằng heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc DOAC và liều dự phòng hoặc liều siêu dự phòng của thuốc chống đông máu làm giảm nguy cơ huyết khối tĩnh mạch với cùng mức độ.

Dựa trên kết quả từ các thử nghiệm AVERT và CASSINI, các hướng dẫn thực hành lâm sàng của ITAC và ASCO hiện khuyến cáo điều trị dự phòng huyết khối bằng apixaban hoặc rivaroxaban ở bệnh nhân ung thư ngoại trú đang hóa trị có điểm Khorana ≥ 2, không có nguy cơ chảy máu và không dùng thuốc. Vì điểm Khorana chỉ định + 2 điểm cho ung thư tuyến tụy, nên hiện nay có thể áp dụng dự phòng huyết khối bằng DOAC hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp cho tất cả bệnh nhân cấp cứu. Quyết định bắt đầu điều trị dự phòng huyết khối nên được đưa ra dựa trên cách tiếp cận đa ngành, lấy bệnh nhân làm trung tâm.

Tuy nhiên, điều trị dự phòng huyết khối ban đầu vẫn chưa được áp dụng rộng rãi ở bệnh nhân ngoại trú ung thư tuyến tụy, chủ yếu là do sợ chảy máu ở những đối tượng yếu ớt và chi phí vốn có cho liệu pháp này.

ung thư tuyến tụy

Việc dự phòng, đánh giá cũng như điều trị huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy khá khó khăn

2. Vai trò thang điểm đánh giá nguy cơ huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tụy

2.1. Thang điểm đánh giá nguy cơ huyết khối ở bệnh nhân ung thư có chỉ định phẫu thuật

Điểm Caprini là dữ liệu rộng rãi nhất để đánh giá nguy cơ huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân đang phẫu thuật. Nó đã được chứng thực trong một số loại ung thư. Tuy nhiên, mô hình này không thể xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao nhất về huyết khối tĩnh mạch trong một thuần tập hồi cứu gồm 426 bệnh nhân ung thư tuyến tụy được điều trị trước phẫu thuật, sau đó là phẫu thuật cắt bỏ. Hơn nữa, điểm Khorana là dữ liệu được sử dụng rộng rãi nhất để đánh giá nguy cơ huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư cấp cứu. Nó đã được phát triển cách đây mười năm, chỉ định 1 đến 2 điểm cho 5 biến số lâm sàng và xét nghiệm đơn giản (vị trí khối u nguyên phát, số lượng tiểu cầu ≥ 350 × 10 9/L, nồng độ hemoglobin ≤ 10 g/dL hoặc sử dụng các chất kích thích tạo hồng cầu, số lượng bạch cầu ≥ 11 × 10 9/L, chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 35 kg/m2. Bệnh nhân được phân loại là có “nguy cơ thấp” (điểm Khorana = 0), “nguy cơ trung bình” (điểm Khorana = 1-2) hoặc “nguy cơ cao” (điểm Khorana ≥ 3). Tất cả bệnh nhân K tuyến tụy đều được phân loại là có nguy cơ trung bình hoặc cao.

Thật không may, mô hình không phân biệt được hai loại nguy cơ này; không có trong các nghiên cứu hồi cứu về bệnh nhân ung thư tuyến tụy đang hóa trị cũng như nghiên cứu BACAP-huyết khối tĩnh mạch tiền cứu lớn; không trong phân nhóm 273 bệnh nhân ung thư tuyến tụy được đưa vào thử nghiệm CASSINI gần đây.

2.2. Các thang điểm để đánh giá nguy cơ huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư có chỉ định hóa trị

Một số sửa đổi đối với dữ liệu này bằng cách bổ sung các biến khác vào mô hình đã được đề xuất. Điểm PROTECHT, bao gồm điều trị bằng cisplatin hoặc hóa trị liệu dựa trên carboplatin và gemcitabine được phát hiện là hoạt động tốt hơn điểm Khorana trong một phân tích hồi cứu của nghiên cứu PROTECHT, giảm số lượng cần điều trị (NTT) từ 50 xuống 17. Tuy nhiên, điểm số này chưa được xác nhận bên ngoài ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy.

Gần đây hơn, điểm ONKOTEV được phát triển trong một nhóm nghiên cứu tương lai gồm 843 bệnh nhân ung thư khác nhau ở Ý và Đức, bao gồm 253 bệnh nhân ung thư dạ dày. Điểm ONKOTEV chỉ định một điểm cho bốn biến, đó là điểm Khorana> 2, tiền sử huyết khối tĩnh mạch trước đó, bệnh di căn và chèn ép cấu trúc mạch máu bởi khối u. Điểm ONKOTEV cho thấy khả năng dự đoán cao hơn đáng kể so với điểm Khorana trong nhóm thuần tập phát triển ban đầu và gần đây đã được xác nhận bên ngoài trong một nhóm thuần tập trung tâm hồi cứu gồm 165 bệnh nhân ung thư tuyến tụy được điều trị ở Bồ Đào Nha với kết quả đầy hứa hẹn.

92 bệnh nhân (55,8%) có bệnh di căn khi được chẩn đoán và 109 (66,1%) được hóa trị liệu toàn thân. Khi thu nhận thì 18,2% bệnh nhân có điểm ONKOTEV là 0; 38,2% bệnh nhân có điểm ONKOTEV là 1; 33,3% bệnh nhân có điểm ONKOTEV là 2 và 10,3% bệnh nhân có điểm ONKOTEV > 2. Thời gian quan sát trung bình là hơn 6 tháng, 51/165 (30,9%) bệnh nhân ung thư tuyến tụy phát triển huyết khối tĩnh mạch. Tỷ lệ tích lũy của huyết khối tĩnh mạch là 82,4% ở những bệnh nhân có ONKOTEV > 2 so với 3,3% ở những người có điểm ONKOTEV là 0. Những kết quả này cho thấy, điểm ONKOTEV có thể giúp phân tầng tốt hơn những bệnh nhân ung thư tuyến tụy có nguy cơ cao nhất về huyết khối tĩnh mạch nhưng cần được xác nhận thêm trong nhóm nghiên cứu tương lai của những bệnh nhân ung thư tuyến tụy cấp cứu.

2.3. Tích hợp các dấu ấn sinh học có liên quan giúp cải thiện khả năng dự đoán huyết khối tĩnh mạch

Faille và cộng sự gần đây đã đánh giá kết quả chẩn đoán của một số dấu ấn sinh học để dự đoán huyết khối tĩnh mạch trong một nhóm gồm 50 bệnh nhân ung thư tuyến tụy, bao gồm Yếu tố VIII, D-dimers, von Willebrand, chất ức chế con đường yếu tố mô tự do, vi mô Hoạt động (MV-TF) và CA 19.9. Trong phân tích đa biến, D-dimers ban đầu ≥ 2,16 μg/mL (HR 4,9; 95% CI: 1,0-23,1); hoạt độ MV-TF ban đầu 2,37 pg/mL (HR 10,5; 95% CI: 1,5-72,4) và đường cơ sở CA 19,9 ≥ 2153 U/mL (HR 9,5; KTC 95%: 1,5-60,2) có liên quan đáng kể với huyết khối tĩnh mạch sau khi điều chỉnh theo tuổi cũng như giới tính, với độ nhạy và đặc hiệu tốt nhất trong việc dự đoán huyết khối tĩnh mạch thu được, đó là CA 19-9. Tuy nhiên, những mối liên quan này không còn ý nghĩa sau khi điều chỉnh sự hiện diện của di căn, yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy.

2.4. Vai trò của điểm số Thrombo inCode-Oncology

Điểm số Thrombo inCode-Oncology (TiC-Onco) lâm sàng-di truyền được phát triển trong một nhóm nghiên cứu tiềm năng gồm 391 bệnh nhân lưu động mắc các bệnh ung thư khác nhau bắt đầu hóa trị toàn thân, bao gồm 72 (18,5%) bệnh nhân ung thư tuyến tụy.

71 trong số 391 (18%) bệnh nhân phát triển huyết khối tĩnh mạch trong vòng 6 tháng. Quá trình lựa chọn biến xác định trước đã chọn cả các biến lâm sàng (vị trí khối u, tiền sử gia đình có huyết khối tĩnh mạch, BMI ≥ 25 kg/m2) và các biến di truyền (đa hình mầm trong các gen F5, F13,SERPINA10 ) để đưa vào điểm số. Trong nhóm thuần tập dẫn xuất, điểm TiC-Onco hoạt động tốt hơn điểm Khorana trong việc dự đoán huyết khối tĩnh mạch ở thời điểm 6 tháng (độ nhạy 49% so với 22%, độ đặc hiệu 81% so với 82%, giá trị dự đoán dương 37% so với 22% và giá trị dự đoán âm 88% so với 82%). Điều quan trọng là bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy có tỷ lệ huyết khối tĩnh mạch cao hơn (40%) so với bệnh nhân mắc các loại ung thư khác (18%), vì vậy ung thư tuyến tụy có tác động lớn đến độ chính xác của điểm TiC-Onco. Tuy nhiên, mô hình này vẫn chưa được xác nhận bên ngoài trong một nhóm thuần tập bệnh nhân ung thư tuyến tụy.

ung thư tuyến tụy

Ung thư tuyến tụy (PC) là một bệnh ác tính nguy hiểm

2.5. Vai trò của thang điểm CATS/MICA

Điểm CATS/MICA bao gồm hai biến, đó là phân loại nguy cơ tại chỗ khối u (rất cao so với cao và cao so với thấp hoặc trung bình) và mức độ D-dimer liên tục. Nó được phát triển trong nhóm nghiên cứu tương lai về ung thư và huyết khối ở Vienna (CATS), gồm 1423 bệnh nhân ung thư lưu động đang hóa trị, trong đó 118 (8%) bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy. Trong thời gian theo dõi trung bình 6 tháng, 80 trong số 1423 bệnh nhân (6%) phát triển huyết khối tĩnh mạch. Trong thuần tập CATS, chỉ số C của mô hình là 0,66 (KTC 95%: 0,63-0,67) so với 0,61 (KTC 95%: 0,51-0,70) cho điểm Khorana. Điểm số sau đó được xác nhận trong nghiên cứu đoàn hệ đa quốc gia tiềm năng để xác định bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (MICA) ( n = 832), bao gồm 116 (14%) bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy. Sử dụng dữ liệu này, tất cả bệnh nhân ung thư tuyến tụy được xếp vào nhóm có nguy cơ huyết khối tĩnh mạch ở mức trung bình hoặc cao. Đáng lưu ý, điểm CATS/MICA vẫn chưa được xác nhận bên ngoài trong một nhóm bệnh nhân ung thư tuyến tụy.

2.6. Vai trò của trí tuệ nhân tạo

Các thuật toán trí tuệ nhân tạo với phương pháp học máy ngày càng được sử dụng nhiều hơn để phát triển mô hình dự đoán. Hai nghiên cứu gần đây được thực hiện trên bệnh nhân ung thư khác nhau hoặc bệnh nhân ung thư buồng trứng đã chứng minh rằng, các mô hình như vậy có thể cải thiện dự đoán huyết khối tĩnh mạch so với các phương pháp thông thường.

3. Điều trị huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy?

Theo một nghiên cứu thuần tập dựa trên dân số lớn gần đây, tỷ lệ mắc huyết khối tĩnh mạch liên quan đến ung thư tuyến tụy đã tăng gấp đôi từ năm 1997 đến 2017, do tỷ lệ hiện mắc ung thư tuyến tụy tăng lên, khả năng sống sót được cải thiện, bệnh nhân ung thư tuyến tụy tuổi cao và việc phát hiện huyết khối tĩnh mạch ngẫu nhiên tốt hơn so với việc sử dụng thường quy chụp cắt lớp vi tính.

Dự phòng huyết khối chính là một phương pháp chăm sóc hỗ trợ với lợi ích lâm sàng được ghi nhận đầy đủ, nhưng hiện nay vẫn chưa được sử dụng nhiều. Kể từ năm 2013, Sáng kiến ​​Quốc tế về Huyết khối và Ung thư (Tổ chức quốc tế về huyết khối và ung thư), một nhóm đa ngành gồm các chuyên gia trên toàn cầu cam kết cải thiện việc quản lý bệnh nhân huyết khối liên quan đến ung thư thông qua phổ biến các sáng kiến ​​giáo dục cho chuyên gia y tế, nỗ lực nâng cao nhận thức về vấn đề quan trọng này.

Đặc biệt, liệu pháp chống đông máu là phương pháp chính trong phòng ngừa và điều trị huyết khối tĩnh mạch, nhưng việc quản lý nó đặc biệt khó khăn đối với các bác sĩ, đặc biệt ở những bệnh nhân đồng mắc suy thận, suy gan, giảm tiểu cầu và những người đang trải qua các phác đồ điều trị ung thư phức tạp.

3.1. Điều trị huyết khối tĩnh mạch bằng phương pháp tiếp cận điều chỉnh

Trong nhiều năm, đơn trị liệu với heparin trọng lượng phân tử thấp đã là tiêu chuẩn chăm sóc để điều trị huyết khối tĩnh mạch liên quan đến ung thư, dựa trên kết quả của 5 thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên mang tính bước ngoặt so sánh heparin trọng lượng phân tử thấp với thuốc đối kháng vitamin K. Tuy nhiên, kết quả tích cực từ 4 thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên gần đây so sánh thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp với đơn trị liệu heparin trọng lượng phân tử thấp để điều trị huyết khối liên quan đến ung thư, đã thúc đẩy hướng dẫn thực hành lâm sàng trong việc đưa thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp như một lựa chọn hàng đầu ở những bệnh nhân được chọn.
Hiện nay, khả năng sử dụng các chiến lược chống đông máu chỉ dùng đường uống, loại trừ nhu cầu tiêm hàng ngày lâu dài và điều chỉnh liều có khả quan nhưng làm tăng thêm sự phức tạp của việc ra quyết định.

3.2. Việc lựa chọn thuốc chống đông phù hợp là một yếu tố quan trọng cho bệnh nhân ung thư huyết khối tĩnh mạch

Việc lựa chọn thuốc chống đông phù hợp như một yếu tố quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân ung thư huyết khối tĩnh mạch. Tuy nhiên, nhiều yếu tố phải được cân nhắc khi lựa chọn một loại thuốc chống đông máu hơn là một loại thuốc khác.

Các hướng dẫn thực hành lâm sàng của Tổ chức quốc tế về huyết khối và ung thư khuyến nghị sử dụng heparin trọng lượng phân tử thấp để điều trị ban đầu và lâu dài đối với huyết khối tĩnh mạch đã hình thành, khi độ thanh thải creatinin ≥ 30 mL mỗi phút (khuyến cáo mức 1B).

Đối với những bệnh nhân không có nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa hoặc sinh dục, cũng có thể sử dụng rivaroxaban (trong 10 ngày đầu) hoặc edoxaban (bắt đầu sau ít nhất 5 ngày kháng đông đường tiêm) (khuyến cáo mức 1B). UFH cung cấp một lựa chọn thay thế khi heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp bị chống chỉ định hay không có sẵn (khuyến cáo mức 2C).

3.3. Thời gian sử dụng thuốc chống đông máu

Thuốc chống đông máu nên được tiếp tục trong ít nhất 6 tháng (độ 1A) hay vô thời hạn khi ung thư đang hoạt động hoặc được điều trị. Heparin trọng lượng phân tử thấp là lựa chọn ưu tiên ở bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch nội tạng do thời gian bán hủy ngắn và có thể giảm liều trong trường hợp giãn tĩnh mạch thực quản.

3.4. Cần chú ý gì khi sử dụng chống đông máu?

Thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp là một lựa chọn hợp lý ở những bệnh nhân ung thư tuyến tụy cấp cứu có huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi với đường tiêu hóa trên nguyên vẹn, không nôn, ít nguy cơ chảy máu, số lượng tiểu cầu> 50000/mm 3, độ thanh thải creatinin> 30 mL/phút, không bị suy gan nặng và không có kế hoạch can thiệp phẫu thuật.

Không nên sử dụng chúng cho những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin <30 mL/ phút, tổn thương đường tiêu hóa, số lượng tiểu cầu <50000/ mm 3, nguy cơ chảy máu cao, phẫu thuật gần đây hoặc đã lên kế hoạch, tương tác thuốc-thuốc tiềm ẩn.

Một số tác giả đã đề xuất một cách tiếp cận điều chỉnh dựa trên từng bước, kết hợp loại khối u, kiểm tra cẩn thận nguy cơ chảy máu, tương tác thuốc – thuốc và sở thích của bệnh nhân.

ung thư tuyến tụy

Phương pháp tiếp cận điều chỉnh bốn bước để điều trị huyết khối tĩnh mạch liên quan đến ung thư tuyến tụy

Bệnh nhân nên tích cực tham gia vào các quyết định điều trị và những người được điều trị bằng thuốc chống đông máu cần được giáo dục về lý do điều trị của họ. Các mối quan tâm tiềm ẩn về an toàn điều trị và nguy cơ tương tác thuốc-thuốc để đảm bảo tuân thủ cũng như kết quả điều trị tối ưu. Huyết khối tĩnh mạch bất ngờ có liên quan đến nguy cơ cao về huyết khối tĩnh mạch tái phát và tử vong liên quan đến huyết khối tĩnh mạch nên được điều trị như huyết khối tĩnh mạch có triệu chứng.

4. Kết luận

Huyết khối tĩnh mạch là một biến chứng phổ biến và có khả năng đe dọa tính mạng ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy. Đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn dựa trên bằng chứng hiện hành chương trình giáo dục bệnh nhân tận tâm để tối ưu hóa cả dự phòng huyết khối ban đầu và điều trị huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy. Các công cụ cải tiến lâm sàng, chẳng hạn như ứng dụng di động dựa trên web đa ngôn ngữ do Tổ chức quốc tế về huyết khối và ung thư phát triển sẽ là điều tối quan trọng để hỗ trợ các bác sĩ thực hiện nghiêm ngặt các hướng dẫn thực hành lâm sàng.

Hiện nay, sàng lọc ung thư sớm được coi là biện pháp hoàn hảo trong việc phát hiện và điều trị kịp thời các loại ung thư. Giảm chi phí điều trị và nhất là giảm tỷ lệ tử vong ở người bệnh. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec luôn triển khai và giới thiệu tới khách hàng Gói Sàng lọc ung thư sớm tại Vinmec – An tâm sống khỏe giúp xét nghiệm gen, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm các chất chỉ điểm sinh học phát hiện khối u sớm.

Lựa chọn Gói sàng lọc ung thư sớm tại Vinmec – An tâm tại Vinmec, khách hàng sẽ được:

  • Chỉ một lần xét nghiệm gen có thể đánh giá về nguy cơ mắc của 16 loại ung thư phổ biến ở cả nam và nữ (Ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư vú, ung thư tuyến tụy, ung thư cổ tử cung, ung thư dạ dày, ung thư tiền liệt tuyến,….)
  • Phát hiện sớm các dấu hiệu manh nha của ung thư thông qua chẩn đoán hình ảnh, nội soi và siêu âm.
  • Thao tác khám đơn giản, cẩn thận và chính xác.
  • Đội ngũ chuyên gia được đào tạo bài bản nghề, đặc biệt là về ung thư, đủ khả năng làm chủ các ca khám chữa ung thư.

Với hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị y tế tiên tiến, hiện đại và đội ngũ bác sĩ có chuyên môn sâu, kinh nghiệm dày dặn sẽ giúp quá trình thăm khám và điều trị của người bệnh tại Vinmec trở nên nhanh chóng với hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí và thời gian.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, Quý khách có thể Đăng ký tư vấn từ xa TẠI ĐÂY

Tài liệu tham khảo:

Frere C. Gánh nặng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân ung thư tuyến tụy. World J Gastroenterol 2021; 27 (19): 2325-2340 [DOI: 10.3748 / wjg.v27.i19.2325]

Comments are closed.