Author

bloghealth

Browsing

Nỗi sợ bị bỏ rơi của một đứa trẻ thường bắt nguồn từ một hoặc một vài biến cố mất mát trong quá khứ như cha hoặc mẹ qua đời hoặc cha mẹ ly thân, ly hôn. Trẻ bị bỏ rơi sẽ có biểu hiện như thế nào?

1. Như thế nào gọi là trẻ bị bỏ rơi?

Trẻ bị bỏ rơi là tình trạng một đứa trẻ không cung cấp hoặc không đáp ứng các nhu cầu cơ bản về cảm xúc, giáo dục, phát triển thể chất và y tế. Bỏ rơi khác với trẻ bị ngược đãi ở đặc điểm đó là nó thường xảy ra mà không có ý định gây hại cho các bé.

Các loại bỏ rơi khác nhau đó là:

  • Bỏ rơi sự phát triển của trẻ: Bao gồm việc không cung cấp đầy đủ thức ăn, quần áo, nơi ở, sự giám sát và bảo vệ trẻ khỏi những nguy hại có thể xảy ra.
  • Bỏ rơi cảm xúc của trẻ: Là việc không cung cấp tình cảm, tình yêu thương hoặc các hình thức hỗ trợ tinh thần khác cho trẻ.
  • Bỏ rơi giáo dục: Là việc không cho trẻ đi học, không đảm bảo đi học, hoặc cung cấp việc học ở nhà cho trẻ.
  • Bỏ rơi y tế: Là không đảm bảo đáp ứng được nhu cầu y tế của trẻ như chăm sóc thích hợp hoặc các điều trị cần thiết cho các tình trạng chấn thương hoặc rối loạn thể chất hoặc tâm thần.

Tuy nhiên, việc không cung cấp dịch vụ chăm sóc phòng ngừa như tiêm phòng, khám răng thường xuyên thường sẽ không được xem là bị bỏ rơi.

2. Biểu hiện khi trẻ bị bỏ rơi

Ở mỗi độ tuổi, trẻ sẽ có những biểu hiện của sự bỏ rơi như:

  • Trẻ dưới 2 tuổi: Ở độ tuổi này, khi bị bỏ rơi, trẻ sẽ có những rối loạn ăn uống (bỏ bú, nôn ói), rối loạn giấc ngủ (trẻ khóc đêm, giật mình). Bé dễ bị nhiễm khuẩn (viêm hô hấp, tiêu chảy) do tình trạng stress gây suy giảm hệ thống miễn dịch.
  • Trẻ từ 3-5 tuổi: Trẻ bị bỏ rơi ở độ tuổi này sẽ có những dấu hiệu thoái lùi như ngừng nói mặc dù trước đó đã biết nói, kém tập trung, khiến cho cô giáo khó chấp nhận cho bé vào lớp mẫu giáo.
  • Trẻ 6-10 tuổi: Ở giai đoạn này, các con sẽ gặp khó khăn trong học tập vì kém trí nhớ, thiếu ngủ, ác mộng, mộng du.
  • Trẻ vị thành niên: Nếu bị bỏ rơi trong giai đoạn này, các bạn nhỏ thường say mê trò chơi vi tính, tiếp cận với Internet, nghiện chat, thích kết bạn trong thế giới ảo để có bạn tâm sự, tập hút thuốc lá, uống rượu, sử dụng ma túy, bỏ học, trầm cảm, dọa tự tử.

trẻ bị bỏ rơi

Trẻ bị rối loạn giấc ngủ, khóc đêm là biểu hiện khi trẻ bị bỏ rơi

3. Trẻ bị bỏ rơi nguy hiểm như thế nào?

Việc lo sợ mất đi những người thân hoặc sự vật trẻ yêu quý là một phần của cuộc sống. Tuy nhiên, nếu nỗi sợ đó có thể trở nên trầm trọng, thường trực đến mức ám ảnh, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống. Điều này có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, khiến bé không thể xây dựng được những mối quan hệ tốt cũng như không có một cuộc sống bình yên thoải mái.

Một đứa trẻ từng phải chịu đựng nỗi đau bị bỏ rơi dễ gặp phải tình trạng khó khăn hoặc căng thẳng về mặt tâm lý, bởi con luôn lo sợ bi kịch sẽ tái diễn. Như một đứa trẻ đã từng bị cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng bỏ rơi hoặc không chăm sóc đầy đủ thường có tính cách thay đổi thất thường, hay khóc hoặc dỗi hờn, dễ nóng giận, cáu gắt. Tình trạng này không được khắc phục có thể kéo dài đến khi đứa trẻ đó lớn lên, thậm chí trong suốt cuộc đời của trẻ. Những hành vi bốc đồng hay cáu kỉnh như thế sẽ khiến cho những người xung quanh ngại tiếp xúc và xa lánh trẻ.

Sự bỏ rơi của cha mẹ không nhất thiết là phải ở hai nơi khác nhau mà có thể diễn ra cả về mặt thể xác lẫn tinh thần. Một người cha hay mẹ không thể hiện tình cảm yêu thương với trẻ, thường xuyên lạnh lùng hoặc thờ ơ cũng là một hành vi bỏ rơi, kể cả khi họ cùng sống dưới một mái nhà.

Những đứa trẻ bị bỏ rơi sẽ không ngừng tự hỏi rằng tại sao cha mẹ lại bỏ mình. Trẻ liên tục tự hỏi rằng:

  • Con đã làm gì sai để cha hoặc mẹ đối xử như vậy?
  • Tại sao cha mẹ không yêu mình ?
  • Tại sao cha mẹ luôn cưng chiều em gái hay em trai hơn mình?

Và rồi con sẽ luôn bị ám ảnh bởi việc phải tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi trên. Bé lo sợ là do bản thân không ngoan, không dễ thương, hoặc nghĩ rằng mình bất bình thường, nên cha mẹ mới làm như thế. Những suy nghĩ sai lệch rằng mình không đáng được bố mẹ yêu thương có thể được đứa trẻ mang theo suốt cuộc đời. Điều này có thể dẫn đến hệ lụy trẻ không dám kết bạn, e ngại sự gần gũi với mọi người và gặp khó khăn trong mọi mối quan hệ.

Tệ hơn, một số đứa trẻ bị bỏ rơi có thể có những suy nghĩ lệch lạc rằng chúng cần phải tự bảo vệ bản thân mình khỏi mọi nỗi đau bằng mọi giá. Sau này, khi những đứa trẻ này lớn lên, có thể trở thành những người lớn khó gần, luôn sống với suy nghĩ rằng thà bỏ rơi người khác hoặc tự tay chấm dứt một mối quan hệ trước, còn hơn là để người ta bỏ rơi mình.

Trong nhiều trường hợp, nỗi sợ bị bỏ rơi của trẻ còn có mối liên hệ một cách mật thiết với chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD). Như một tai nạn thảm khốc đã khiến cho trẻ mất đi những người thân yêu, hoặc một môi trường sống không an toàn – nơi mà trẻ đã từng bị ngược đãi cả về mặt thể chất lẫn tinh thần – đều có thể gây ra những chấn thương tâm lý nặng nề với trẻ, bao gồm cả nỗi sợ bị bỏ rơi.

Sang chấn tâm lý có thể xảy ra ở những đứa trẻ phải sống trong môi trường gia đình ngột ngạt như bị người thân trêu đùa cảm xúc, hoặc bị cha mẹ đặt ra những kỳ vọng quá cao. Hoặc những đứa trẻ sống trong những gia đình có cha mẹ cũng có vấn đề về mặt tâm lý, có biểu hiện sở hữu hoặc bấu víu trẻ như thể giá trị của họ chỉ được quyết định bởi sự thành đạt hoặc xuất chúng của con mình.

Nỗi sợ bị bỏ rơi trở lên nghiêm trọng và kéo dài còn gây tác động tiêu cực đến lòng tự trọng của trẻ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có lòng tự trọng thấp sẽ dễ kết bạn với những người cũng có những niềm tin tiêu cực giống họ.

Nỗi sợ bị bỏ rơi và lòng tự trọng thấp khiến cho trẻ không tin tưởng bất kỳ ai, không dám tin vào cuộc sống, thường cảm thấy mình vô dụng, không thích các mối quan hệ quá thân thiết hay gần gũi. Một số trường hợp sẽ thường xuyên phải chống chọi lại tình trạng lo âu, trầm cảm, hay phụ thuộc quá mức vào người khác, không dám đối mặt với những khó khăn khác trong cuộc sống.

trẻ bị bỏ rơi

Giúp trẻ tái kết nối với xã hội bằng việc đi chơi với bạn bè

4. Phục hồi tâm lý cho trẻ bị bỏ rơi

Phục hồi tâm lý cho trẻ bị bỏ rơi cần diễn ra từ từ trong một khoảng thời gian dài. Cha mẹ và những thành viên khác trong gia đình cần có trách nhiệm quan sát và hỗ trợ các bé trong thời gian này. Dưới đây là một số biện pháp giúp trẻ cải thiện tâm lý bị bỏ rơi.

  • Đừng lơ là các dấu hiệu bất thường của các con: Bạn cần quan tâm bé, bày tỏ tình yêu thương, không dò xét. Thường xuyên trò chuyện, gợi mở để trẻ có thể chia sẻ với bạn về những gì bản thân đang trải qua. Cha mẹ cần thực sự lắng nghe và sẵn sàng giúp đỡ trẻ giải quyết những vấn đề mà con đang gặp phải.
  • Động viên bé kết nối với xã hội: Những đứa trẻ bị bỏ rơi dẫn tới trầm cảm thường có xu hướng tự tách mình ra khỏi các hoạt động yêu thích với bạn bè. Tuy nhiên, điều này chỉ khiến cho tình trạng trầm cảm thêm tồi tệ. Bạn hãy khéo léo giúp trẻ tái kết nối với xã hội bằng việc đi chơi, du lịch…
  • Củng cố sức khỏe thể chất cho con: Sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất có sự kết nối chặt chẽ. Vấn đề về tâm thần ở trẻ bị bỏ rơi sẽ trầm trọng hơn nếu con không hoạt động, ngủ ít và dinh dưỡng kém. Bạn hãy hỗ trợ trẻ bằng cách tạo lập một thói quen sống tích cực bằng các hoạt động vui chơi có đầy đủ cả gia đình vào những ngày nghỉ.
  • Biết được khi nào trẻ cần kiếm sự giúp đỡ từ chuyên gia: Khi cha mẹ đã áp dụng các biện pháp trên nhưng tình trạng này không cải thiện thì có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ các chuyên gia tâm lý học hoặc thần kinh học.

Hiện tại, Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Vinmec xây dựng phòng khám Tâm lý Nhi với mục tiêu tăng cường chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ. Chuyên gia tâm lý tại phòng khám có nhiệm vụ đánh giá, hướng dẫn, hỗ trợ và can thiệp trong những trường hợp trẻ có vấn đề về sức khỏe tâm thần.

Phòng khám Tâm lý nhi sở hữu đội ngũ y bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, am hiểu tâm lý trẻ em. Vinmec còn đặc biệt quan tâm đến không gian vui chơi của các bé, giúp các bé vui chơi thoải mái và làm quen với môi trường của bệnh viện, hợp tác điều trị, nâng cao hiệu quả khám chữa bệnh.

Phòng khám Tâm lý nhi với tiêu chí bảo mật và cảm thông đặt lên hàng đầu. Gia đình và trẻ có thể yên tâm trong việc các chuyên gia tại phòng khám giữ kín các thông tin liên quan đến trẻ và gia đình trẻ.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Trẻ thiếu hormone tăng trưởng là tình trạng rối loạn nội tiết, nổi bật với các dấu hiệu như trẻ lùn, chậm lớn. Việc phát hiện và điều trị thiếu hormone tăng trưởng kịp thời không chỉ quan trọng đối với phát triển chiều cao mà còn đối với sự phát triển nội tiết tổng thể của trẻ.

1. Nguyên nhân gây thiếu hormone tăng trưởng

Hormone tăng trưởng GH (Growth hormone) do thùy trước tuyến yên (anterior pituitary gland) sản xuất, có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể. Hormone GH kích thích sự tăng trưởng tế bào, quá trình phân bào, sửa chữa tế bào và các hoạt động của quá trình trao đổi chất như: Tăng tổng hợp protein, chất béo, glucose… GH thúc đẩy sự phát triển xương từ sơ sinh đến tuổi dậy thì, hỗ trợ quá trình phục hồi sau chấn thương và bệnh tật. Ngoài ra, GH còn điều hoà sự sinh sản hồng cầu và tăng khối lượng cơ bắp.

Trẻ thiếu hormone tăng trưởng là 1 rối loạn nội tiết, biểu hiện bằng tình trạng lùn, trẻ chậm lớn. Tỷ lệ trẻ thiếu hormone tăng trưởng khoảng 1/3500 – 1/4000, thiếu hormone tăng trưởng thể nhẹ có thể gặp ở tần số 1/2000 trẻ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ thiếu hormone tăng trưởng như:

  • Do bẩm sinh bất thường não trước, bất sản hoặc giảm sản tuyến yên trong thời kỳ bào thai.
  • Do mắc cách bệnh lý như u vùng dưới đồi, u tuyến yên hoặc do chấn thương sọ não;
  • Tuyến yên bị tổn thương do chiếu xạ điều trị các khối u vùng sọ, vùng mũi họng, hốc mắt,…
  • Não tổn thương do nhiễm vi khuẩn, virus, nấm,…

trẻ thiếu hormone tăng trưởng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ thiếu hormone tăng trưởng

2. Dấu hiệu trẻ thiếu hormone tăng trưởng

Trẻ thiếu hormone tăng trưởng từ lúc nhỏ sẽ thấp bé, chậm lớn hơn bạn bè, chiều cao < -2SD so với quần thể bình thường. Do giảm sản vùng mặt giữa nên gương mặt trẻ trông tròn và non nớt. Trẻ có tay chân nhỏ, dương vật nhỏ. Một số trẻ thiếu hormone tăng trưởng có thể có mỡ quanh vùng bụng, mũm mĩm dù tỷ lệ cơ thể bình thường.

Nếu tình trạng trẻ thiếu hormone tăng trưởng xảy ra ở những giai đoạn sau của cuộc đời do chấn thương sọ não, khối u não thì triệu chứng thường gặp là dậy thì muộn, chậm phát triển về tình dục.

Trẻ thiếu hormone tăng trưởng cũng có thể sẽ thường xuyên thấy mệt mỏi, khả năng chịu đựng kém, nhạy cảm hơn với nhiệt độ nóng hoặc lạnh.

Một số các triệu chứng về tâm lý cũng có thể xảy ra với trẻ thiếu hormone tăng trưởng như trầm cảm, thiếu tập trung, trí nhớ kém, lo âu hoặc thay đổi cảm xúc,…

Để chẩn đoán xác định tình trạng thiếu hormone tăng trưởng, bác sĩ có thể chỉ định cho trẻ thực hiện một số kỹ thuật cận lâm sàng như:

  • Xét nghiệm máu để định lượng chính xác hormone tăng trưởng và một số hormone liên quan khác trong cơ thể. Xét nghiệm hormone tăng trưởng ở trạng thái tĩnh thường không chính xác do đó thường dùng các test động như test dung nạp insulin, test vận động, test glucagon,…để định lượng.
  • Chụp X-quang để đánh giá mức độ phát triển của xương.
  • Nếu nghi ngờ có tổn thương hoặc khối u tuyến yên, bác sĩ sẽ chỉ định chụp MRI tuyến yên và vùng dưới đồi. Kết quả chụp MRI giúp xác định các vấn đề xảy ra với tuyến yên là do bẩm sinh hay do chấn thương, khối u.

Trẻ thiếu hormone tăng trưởng

Trẻ thiếu hormone tăng trưởng từ lúc nhỏ sẽ thấp bé, chậm lớn hơn bạn bè

3. Điều trị tình trạng trẻ thiếu hormone tăng trưởng

Trẻ thiếu hormone tăng trưởng bẩm sinh có thể được điều trị bằng hormone tăng trưởng cho đến tuổi dậy thì. Nếu đáp ứng với điều trị, trẻ sẽ tăng chiều cao từ 8 – 12cm/ năm. Thời điểm điều trị bằng hormone tăng trưởng tốt nhất ở trẻ là trong khoảng 4-13 tuổi, trước khi các sụn xương của trẻ đóng lại. Điều trị bằng hormone tăng trưởng sau tuổi dậy thì sẽ không còn ý nghĩa. Để đạt hiệu quả điều trị tốt nhất, trẻ cần được tiêm thuốc đúng liều lượng và đều đặn theo sự chỉ dẫn của bác sĩ. Trẻ điều trị bằng hormone tăng trưởng cần được khám định kỳ 3-6 tháng/lần để bác sĩ để đánh giá đáp ứng với điều trị và theo dõi tác dụng phụ.

Hầu hết trẻ thiếu hormone tăng trưởng khi còn nhỏ sẽ sản xuất ra đủ lượng hormone tăng trưởng khi trưởng thành. Tuy nhiên, một số ít trẻ sẽ vẫn cần phải được điều trị suốt đời. Bằng việc xét nghiệm lượng hormone tăng trưởng trong máu, bác sĩ sẽ xác định trẻ có cần tiếp tục tiêm hormone tăng trưởng không.

Cha mẹ cần đưa trẻ đến bệnh viện uy tín để được bác sĩ chuyên khoa thăm khám ngay khi có dấu hiệu thiếu hormone tăng trưởng. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những địa chỉ không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp, không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Khách hàng khi chọn thực hiện các xét nghiệm và điều trị tại đây có thể hoàn toàn yên tâm về độ chính xác của kết quả.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Từ khi sinh ra cho đến độ tuổi tập đi, trẻ học hỏi nhiều điều và tìm tòi khám phá mọi thứ xung quanh. Điều này không ngoại trừ việc trẻ tò mò chính cơ thể mình và tìm cách khám phá. Vì vậy, một số trẻ thường hay cho tay vào vùng kín hay còn gọi là thủ dâm, khiến cho cha mẹ không hỏi hoang mang. Tuy nhiên, đây là điều hoàn toàn tự nhiên và bình thường.

1. Trẻ hay cho tay vào vùng kín có gây ảnh hưởng gì?

Ngay từ khi sinh ra cho đến độ tuổi tập đi, trẻ luôn khám phá tìm hiểu mọi thứ xung quanh để học hỏi nhiều điều và thỏa mãn tính tò mò. Trong đó, trẻ cũng sẽ tò mò chính cơ thể của mình và tìm cách khám phá. Do vậy, một số trẻ thường hay nghịch vùng kín của mình hay còn gọi là thủ dâm.

Thủ dâm ở trẻ em là hình động trẻ hay nghịch bộ phận sinh dục, đây là một đặc điểm tính dục của thời ấu thơ mà cha mẹ cảm thấy khó đáp ứng một cách thoải mái và chấp nhận điều đó. Thậm chí một số người có thể cho rằng trẻ hay cho tay vào vùng kín là một hành vi không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu của Đại học Michigan tại Mỹ cho biết, hầu hết trong giai đoạn từ 5-6 tuổi trẻ hay sờ tay vào vùng kín của mình.

Ở độ tuổi 15 gần như 25% bé gái và 100% bé trai đã từ thủ dâm đạt tới cực khoái. Cho nên, hành vi trẻ nghịch vùng kín là một hình thức tìm hiểu cơ thể xảy ra ở cả hai giới. Trong độ tuổi này, trẻ đang trong quá trình phát triển tìm hiểu cảm xúc của bản thân, vì vậy đây là một hành vi bình thường không đáng xấu hổ hay vấn đề tình dục. Tuy nhiên, cha mẹ cũng nên phân biệt được hành vi này với những trường hợp trẻ gãi bộ phận sinh dục có thể đang bị viêm nhiễm.

trẻ hay cho tay vào vùng kín

Cha mẹ hãy đánh lạc hướng trẻ khi trẻ hay cho tay vào vùng kín

2. Làm gì khi trẻ hay cho tay vào vùng kín?

Khi thấy trẻ nghịch vùng kín trước tiên cha mẹ hãy cố gắng giữ cho mình một tâm trạng bình tĩnh, không hoảng loạn. Sau đó, cha mẹ hãy đánh lạc hướng trẻ bằng một câu chuyện hay trò chơi mà trẻ yêu thích. Nếu việc đánh lạc hướng không thành công thì hãy giải thích cho trẻ đây là một hành vi không nên làm chỗ đông người.

Ngoài ra, cần tăng cường hoạt động thể chất cho trẻ, đồng thời chăm sóc những cử chỉ yêu thương của cha mẹ. Khi trẻ tham gia hoạt động thể chất cơ thể sẽ giải phóng năng lượng và tinh thần sảng khoái hơn giúp hạn chế việc thủ dâm ở trẻ. Hãy thảo luận với cô giáo mầm non hay người chăm sóc trẻ hàng ngày về cách phản ứng khi trẻ hay nghịch bộ phận sinh dục và cách xử lý để trẻ không bị bối rối quá nhiều ý kiến. Điều đặc biệt là cha mẹ không nên trừng phạt trẻ khi thấy trẻ sờ tay vào vùng kín, cũng như không được la hét về điều này. Bởi vì những năm đầu đời rất quan trọng trong cuộc sống, những trải nghiệm của trẻ và mối quan hệ giữa chúng với những người xung quanh. Những nền tảng ban đầu đó ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập và hành vi cũng như sức khỏe tinh thần và thể chất diễn ra trong cuộc đời của trẻ.

Tóm lại, hành vi trẻ hay cho tay vào vùng kín là một tình trạng tự nhiên khi trẻ tò mò tìm hiểu cơ thể của mình. Vì vậy, cha mẹ không nên quá lo lắng mà hãy bình tĩnh đánh lạc hướng trẻ đồng thời cho trẻ tham gia hoạt động ngoài trời nhiều hơn cũng như tập luyện hoạt động thể chất giúp trẻ giải phóng năng lượng, hạn chế việc trẻ hay sờ vùng kín.

Để có thêm kiến thức dinh dưỡng và chăm sóc trẻ theo từng độ tuổi, cha mẹ hãy thường xuyên truy cập website blog-health.com và đặt hẹn với các bác sĩ, chuyên gia Nhi – Dinh dưỡng hàng đầu của Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế Vinmec khi cần tư vấn về sức khỏe của trẻ.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Kỹ thuật cấp cứu ngừng tuần hoàn là một kỹ thuật cơ bản, mọi người đều nên biết để có thể cứu sống bệnh nhân ngừng tuần hoàn. Bởi nguyên nhân gây ngừng tuần hoàn không chỉ do các bệnh lý tim mạch, hô hấp,… mà còn có thể gặp phải do tai nạn đuối nước, điện giật…

1. Ngừng tuần hoàn là gì?

Ngừng tuần hoàn là hiện tượng tim dừng cung cấp máu cho toàn bộ cơ thể, đặc biệt là các cơ quan quan trọng như não, tuần hoàn vành, phổi… Có 3 trạng thái cơ bản của ngừng tuần hoàn đó là vô tâm thu, rung thất và phân ly điện cơ.

Ngừng tuần hoàn có thể xảy ra một cách đột ngột với một quả tim hoàn toàn khỏe mạnh bình thường trước đó, như trong các tai nạn do sốc phản vệ, đa chấn thương, điện giật, đuối nước,…

Song ngừng tuần hoàn cũng có thể là hậu quả của một bệnh lý mạn tính ở giai đoạn cuối như suy tim, suy thận, ung thư, xơ gan

Bình thường, lưu lượng máu não sẽ luôn được duy trì ổn định ở mức 50ml/100gr tổ chức não trong 1 phút cho dù huyết áp dao động từ 50 – 150 mmHg. Sở dĩ có được điều này đó là nhờ tính tự điều hòa của hệ mạch não, khi huyết áp động mạch giảm thấp, các mạch máu não sẽ giãn rộng ra để tiếp nhận nhiều máu hơn và ngược lại khi huyết áp tăng lên thì các mạch máu não co lại để giảm lượng máu tới não.

Tế bào não có thể sống được khi lưu lượng máu não ở ngưỡng thấp nhất là 20ml/100gr/phút, dưới ngưỡng này thì mạch não sẽ giãn ra tối đa nhưng vẫn không cung cấp đủ máu cho não và sự sống của các tế bào não phụ thuộc trực tiếp vào thời gian thiếu máu não. Một khi tế bào não đã bị tổn thương thì không có khả năng tái tạo và phục hồi như các tế bào khác.

Trong điều kiện bình thường, khả năng chịu đựng thiếu oxy của các tế bào não tối đa là 5 phút. Đây là giai đoạn chết lâm sàng và việc cấp cứu nhằm cung cấp lại máu và oxy cho não phải được tiến hành nhanh chóng trong trong giai đoạn này thì mới có thể cứu sống được bệnh nhân.

Khi tình trạng ngừng tuần hoàn kéo dài trên 5 phút, các tế bào não sẽ bị tổn thương không có khả năng hồi phục và khi đó bệnh nhân chuyển sang giai đoạn chết não.

Trong một số trường hợp đặc biệt nhất định, khả năng chịu đựng thiếu oxy của tế bào não có thể kéo dài hơn như:

  • Trong điều kiện hạ thân nhiệt;
  • Trước đó bệnh nhân đã sử dụng các loại thuốc làm giảm tiêu thụ oxy não như Barbituric;
  • Trẻ sơ sinh…

Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây ngừng tuần hoàn. Cụ thể:

  • Nguyên nhân do tim: Bệnh thiếu máu cơ tim, tắc mạch vành cấp, các bệnh cơ tim, viêm cơ tim, chấn thương tim chèn ép tim cấp, kích thích trực tiếp vào tim.
  • Nguyên nhân tuần hoàn: Thiếu khối lượng tuần hoàn cấp, đó là các loại sốc; tắc mạch phổi do khí hoặc do cục nghẽn; cơ chế phản xạ dây phế vị.
  • Nguyên nhân hô hấp: Tràn khí màng phổi nặng; thiếu oxy cấp do dị vật gây tắc đường thở; ưu thán.
  • Nguyên nhân rối loạn chuyển hóa: Rối loạn chuyển hóa kali, tăng canxi máu cấp, tăng catecholamin cấp, hạ thân nhiệt.
  • Nguyên nhân do thuốc, nhiễm độc: Thuốc gây ngừng tim, do tác dụng phụ của thuốc.
  • Nguyên nhân khác: Điện giật, đuối nước.

Có một số nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng tới thời gian cấp cứu ngừng tuần hoàn

Có một số nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng tới thời gian cấp cứu ngừng tuần hoàn

2. Nhận biết ngừng tuần hoàn như thế nào?

Ngừng tuần hoàn được chẩn đoán dựa trên 3 triệu chứng cơ bản sau:

  • Mất ý thức: Là khi gọi hỏi bệnh nhân không có đáp ứng trả lời, không có phản xạ thức tỉnh.
  • Ngừng thở hoặc thở ngáp: Là khi hoàn toàn không thấy lồng ngực và bụng của bệnh nhân không có cử động thở.
  • Ngừng tim: Là khi kiểm tra mạch cảnh hoặc mạch bẹn không thấy mạch đập.

Ngoài ra bệnh nhân còn có thể có các triệu chứng khác như là:

  • Da nhợt nhạt hoặc tím tái.
  • Giãn đồng tử và đồng tử mất phản xạ với ánh sáng.
  • Nếu bệnh nhân đang trong quá trình phẫu thuật sẽ thấy hiện tượng máu ở vết mổ tím đen và ngừng chảy.
  • Nếu bệnh nhân đang hôn mê, thở máy thì monitor tim sẽ báo động, SpO2 giảm đột ngột.

3. CAB trong kỹ thuật cấp cứu ngừng tuần hoàn là gì?

CAB trong cấp cứu ngừng tuần hoàn có nghĩa là:

  • A (Airway): Giải phóng đường thở.
  • B (Breathing): Thổi ngạt hay hô hấp nhân tạo.
  • C (Chest compressions): Ép tim.

Năm 2010, Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ (AHA) đã đưa ra hướng dẫn mới trong kỹ thuật cấp cứu ngừng tuần hoàn cơ bản, trong đó trình tự của các bước được thay đổi từ giải phóng đường thở, thổi ngạt, ép tim thành ép tim, giải phóng đường thở, thổi ngạt. Nếu có đầy đủ các thiết bị y tế nên cho dùng thuốc và sốc điện ngay.

3.1. Ép tim ngoài lồng ngực (C)

Bạn nên chọn một vị trí thích hợp ở một bên người bệnh, đặt một bàn tay lên chính giữa 1/2 dưới của xương ức người bệnh, sau đó đặt bàn tay kia đặt lên trên, để các ngón tay xen kẽ và cùng chiều nhau.

Tiếp theo sử dụng lực từ hai tay, vai và thân mình của bạn để ép vuông góc xuống lồng ngực của người bệnh sao cho xương ức lún xuống từ 4 – 5 cm. Sau đó nhấc tay lên và tiếp tục nhịp ép thứ hai, tần số ép tim ít nhất là 100 lần/phút.

Với mỗi một nhịp ép tim đúng kỹ thuật bạn sẽ phải bắt được mạch ở động mạch cảnh hoặc động mạch bẹn. Như vậy mới đạt được hiệu quả đưa máu vào vòng tuần hoàn nhờ vào lực ép trực tiếp lên tim kết hợp với sự thay đổi áp lực trong lồng ngực.

Động tác ép tim sẽ đẩy máu từ tâm thất phải lên phổi trao đổi khí và đưa máu từ tâm thất trái vào tuần hoàn vành và tuần hoàn não, sau đó máu sẽ trở về tâm nhĩ một cách thụ động khi dừng ép, bởi khi đó tim sẽ giãn ra và áp lực trong lồng ngực giảm xuống.

Cần kết hợp thực hiện xen kẽ động tác ép tim và động tác thổi ngạt cần phải một cách nhịp nhàng theo chu kỳ. Một chu kỳ này bao gồm có 30 lần ép tim sau đó 2 lần thổi ngạt dù có một hay nhiều người cấp cứu.

3.2. Khai thông đường thở

Để khai thông đường thở cho bệnh nhân, trước tiên bạn cần đặt họ nằm ngửa trên một nền cứng, đầu và cổ ở tư thế ưỡn tối đa, mặt quay về một bên. Cần phải làm như vậy là bởi vì khi ngừng tim, các cơ bị mất trương lực khiến cho xương hàm dưới và gốc lưỡi của bệnh nhân rơi xuống thấp, chèn lấp đường thở của bệnh nhân gây cản trở động tác hô hấp nhân tạo.

Bạn mở miệng người bệnh ra, rồi dùng các ngón tay để móc sạch đờm dãi và dị vật trong miệng nếu như có thể lấy được. Với các dị vật nằm ở sâu trong cổ họng và khó lấy, bạn không nên cố lấy chúng ra vì sẽ làm mất thời gian và thậm chí có thể đẩy dị vật vào sâu hơn hoặc gây tắc hoàn toàn đường thở của bệnh nhân.

Trong trường hợp đó bạn nên sử dụng nghiệm pháp Heimlich để làm bật các dị vật đường thở ra ngoài. Nghiệm pháp Heimlich được thực hiện như sau:

  • Bạn đứng ở phía sau bệnh nhân, một bàn tay nắm lại đặt ngay dưới mũi ức của nạn nhân, bàn tay còn lại đặt chồng lên bàn tay kia. Sau đó ôm xốc người bệnh lên sao cho nắm tay thúc mạnh vào vùng thượng vị hướng về phía lồng ngực của bệnh nhân.
  • Nếu bệnh nhân to lớn hơn bạn, khiến cho bạn không thể ôm xốc lên được thì đặt nạn nhân nằm ngửa trên nền cứng, bạn ngồi trên người bệnh nhân, hai bàn tay chồng lên nhau đặt trên vùng thượng vị của bệnh nhân rồi thúc mạnh về phía ngực.

Cơ chế của nghiệm pháp Heimlich đó là làm tăng áp lực trong lồng ngực một cách đột ngột. Cần lưu ý không nên làm nghiệm pháp này khi dạ dày đầy vì có thể gây trào ngược dạ dày thực quản, cũng không nên cố thực hiện nhiều lần mà không thể lấy được dị vật vì sẽ làm mất thời gian.

Đối với trẻ nhỏ, bạn có thể cầm hai chân và dốc ngược trẻ lên rồi dùng tay vỗ mạnh vào vùng giữa hai xương bả vai để có thể làm bật được dị vật ra ngoài.

Ép tim ngoài lồng ngực (C)

Ép tim ngoài lồng ngực là một động tác trong CAB trong cấp cứu ngừng tuần hoàn

3.3. Thổi ngạt cho bệnh nhân

Bạn có thể chọn kỹ thuật thổi miệng – miệng hoặc miệng – mũi. Thông thường cách thổi miệng – miệng có hiệu quả hơn.

Bạn dùng một tay đặt lên trán, rồi ấn ngửa đầu bệnh nhân ra sau, đồng thời dùng ngón trỏ và ngón cái của tay đó để kẹp mũi bệnh nhân lại. Dùng các ngón tay của bàn tay thứ 2 vừa nâng hàm dưới của bệnh nhân lên trên ra trước và mở miệng bệnh nhân ra. Sau đó bạn hít sâu rồi áp chặt miệng vào miệng bệnh nhân và thổi hết không khí dự trữ qua miệng vào phổi của bệnh nhân.

Bạn có thể áp dụng thổi miệng-mũi nếu bệnh nhân quá to lớn, bạn dùng một bàn tay nâng xương hàm dưới của bệnh nhân lên trên ra trước vừa khép miệng bệnh nhân lại, bàn tay thứ hai sẽ đặt lên trán bệnh nhân ấn ngửa đầu ra sau. Tiếp theo bạn hít sâu rồi áp chặt miệng vào mũi bệnh nhân rồi thổi hết không khí dự trữ qua mũi vào phổi bệnh nhân.

Nên thực hiện thổi ngạt với tần số từ 10 – 12 lần/phút, trung bình đối với người lớn mỗi lần thổi phải đạt được khoảng 500ml – 750ml (10 -15ml/kg thể trọng của bệnh nhân). Nếu bạn làm đúng kỹ thuật, thì với mỗi lần thổi như vậy sẽ thấy lồng ngực bệnh nhân chuyển động vồng lên.

Khi bạn thực hiện không đúng kỹ thuật sẽ không nhìn thấy lồng ngực của bệnh nhân nở ra theo nhịp thở, đồng thời sẽ thấy bụng bệnh nhân to dần lên theo từng nhịp thổi (không khí đi xuống dạ dày) hoặc không khí phì ra ngay trên mặt bệnh nhân.

Thổi ngạt là đưa không khí có oxy vào trong phổi của bệnh nhân, động tác thở ra thụ động sau khi ngừng thổi giúp không khí trong phổi thoát ra ngoài mang theo CO2.

Trong trường hợp có trang bị dụng cụ, có thể đặt ống nội khí quản cho bệnh nhân hoặc úp masque bóp bóng, khi đó bạn cần dùng masque úp khít lên mũi và miệng của bệnh nhân, masque này được nối với bóng bóp. Bạn cần bóp bóng cho bệnh nhân với tần số khoảng 20 nhịp/phút. Tốt nhất là bóp bóng được nối với nguồn cung cấp oxy với lưu lượng từ 6 – 8 lít/phút.

4. Thời gian cấp cứu ngừng tuần hoàn là bao lâu?

Thời gian cấp cứu ngừng tuần hoàn là từ khi phát hiện bệnh nhân cho đến khi đạt được mục đích cung cấp máu và oxy đến cho tuần hoàn não, tuần hoàn vành và các tổ chức tế bào khác. Biểu hiện là niêm mạc môi của bệnh nhân hồng trở lại, đồng tử co lại nếu thời gian não thiếu oxy chưa lâu và còn có khả năng hồi phục.

Càng tốt hơn nếu như bệnh nhân có các dấu hiệu của sự sống như:

  • Bệnh nhân thở trở lại.
  • Tim bệnh nhân đập lại.
  • Ý thức tỉnh trở lại…

Cần lưu ý nếu bệnh nhân chỉ có các dấu hiệu các tổ chức được cung cấp oxy (môi hồng trở lại) mà chưa có dấu hiệu phục hồi tuần hoàn não (đồng tử co lại) thì vẫn phải kiên trì cấp cứu. Đồng thời gọi cấp cứu y tế ngay lập tức hoặc vừa tiến hành cấp cứu vừa vận chuyển bệnh nhân đến một cơ sở y tế gần nhất.

Nếu bạn đã thực hiện đúng và đầy đủ các biện pháp như trên và không có điều kiện vận chuyển hoặc gọi tuyến trên chi viện, thì sau 60 phút mà đồng tử bệnh nhân không co lại, tim không đập lại thì cho phép ngừng cấp cứu và xác định bệnh nhân tử vong. Trường hợp bệnh nhân bị ngừng tuần hoàn trong điều kiện đặc biệt thì cần thực hiện cấp cứu kiên trì hơn vì vẫn có thể cứu sống bệnh nhân.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Sức đề kháng yếu là lý do khiến trẻ dễ bị các loại virus, vi khuẩn gây bệnh tấn công vào mùa đông. Cha mẹ cần đặc biệt lưu ý và theo dõi sức khỏe cho các bé để sớm phát hiện dấu hiệu bệnh lý, điều trị và tránh biến chứng nặng.

Một số bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa đông có thể kể đến như sốt xuất huyết, chân tay miệng, cúm,…

1. Sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết là một trong những bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa đông. Sốt xuất huyết là loại bệnh truyền nhiễm cấp tính gây ra bởi virus Dengue. Virus thường được lây nhiễm từ người sang người thông qua vật chủ trung gian đó là muỗi vằn, mầm bệnh vào cơ thể sau 4-5 ngày sau trẻ sẽ mắc bệnh sốt xuất huyết. Những dấu hiệu nhận biết sớm bệnh sốt xuất huyết ở trẻ bao gồm:

  • Sốt cao kéo dài, có thể sốt cao tới 40 độ C.
  • Đau đầu dữ dội
  • Nổi mẩn
  • Phát ban
  • Bệnh tiến triển nặng có thể gây buồn nôn, nôn, bàn chân và bàn tay lạnh

Phương pháp điều trị sốt xuất huyết chủ yếu điều trị triệu chứng. Bệnh sốt xuất huyết được xếp vào nhóm bệnh giao mùa nguy hiểm và có thể tiến triển nhanh thậm chí bùng phát thành dịch.

Do vậy, khi xuất hiện những triệu chứng trên, cha mẹ cần đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời. Cùng với đó, khi thời điểm giao mùa cách phòng bệnh tốt nhất là diệt muỗi, bọ gậy. Phòng ngừa muỗi đốt bằng cách mặc cho trẻ quần áo dài tay, nằm ngủ màn và bôi kem xua muỗi cũng như các biện pháp được chỉ đạo bởi chính quyền địa phương.

2. Bệnh chân tay miệng

Bệnh chân tay miệng ở trẻ em rất phổ biến và dễ lây lan, gây ra do virus cấp tính Coxsackievirus và Enterovirus. Bệnh chân tay miệng trẻ em có thể dễ dàng lây truyền qua nhiều con đường khác nhau đặc biệt là đường tiêu hóa hoặc khi tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết như phân, nước bọt, bọng nước, dịch mũi họng,…Những dấu hiệu đặc trưng của bệnh tay chân miệng ở trẻ bao gồm:

  • Nổi bọng nước trên da
  • Loét niêm mạc miệng
  • Tiến triển nặng: khó thở, nôn trớ và co giật.

Nếu bệnh không được điều trị kịp thời có thể dẫn tới biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm não, viêm cơ tim,… thậm chí có thể dẫn tới tử vong. Những phương pháp điều trị tay chân miện hiện này giúp làm giảm thiểu nguy cơ mắc các biến chứng nguy hiểm ở trẻ. Do vậy, khi có dấu hiệu tay chân miệng ở trẻ, cha mẹ cần đưa ngay tới cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp thời. Hiện nay chưa có vaccin phòng ngừa tay chân miệng, biện pháp phòng bệnh hiệu quả là hạn chế tiếp xúc với người bệnh và rửa tay bằng xà phòng đúng cách.

bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa đông

Tay chân miệng là bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa đông

3. Hen suyễn

Hen suyễn hay còn được gọi là hen phế quản, là một trong những bệnh lý mạn tính đe dọa tới tính mạng của người bệnh nếu không được điều trị kịp thời. Tại Việt Nam, có khoảng 8-10% trẻ mắc bệnh hen suyễn và thường gia tăng trong thời điểm giao mùa. Triệu chứng đặc trưng của hen phế quản đó là xuất hiện các cơn ho khò khè kéo dài và có thể tái phát nhiều lần. Những cơn ho có chiều hướng tăng vào ban đêm hoặc lúc gần sáng, đặc biệt trẻ có thể ho dữ dỗi dẫn tới khó thở.

Phương pháp điều trị hen phế quản ở trẻ em chủ yếu nhằm cắt cơn hen và hạn chế những biến chứng nguy hiểm. Do vậy, cha mẹ cần theo dõi và nhận biết sớm các triệu chứng hen phế quản ở trẻ. Tránh cho trẻ tiếp xúc và sống trong môi trường ô nhiễm, nhiều khói bụi và thuốc lá. Bổ sung chất dinh dưỡng đúng cách, hạn chế cho trẻ những thực phẩm làm tăng cơn hen ở những trẻ có tiền sử hen phế quản. Đặc biệt, vào mùa đông cần giữ ấm cơ thể trẻ và tiêm vaccin đầy đủ để phòng bệnh truyền nhiễm.

4. Nhiễm trùng hô hấp

Nhiễm trùng hô hấp là một trong những bệnh lý dẫn tới tử vong hàng đầu ở trẻ em. Trên thế giới, mỗi năm có khoảng 4,3 triệu trẻ em dưới 5 tuổi vì nhiễm trùng hô hấp, chủ yếu là viêm phổi và viêm phế quản.

Triệu chứng bệnh nhiễm trùng đường hô hấp rất đa dạng, sốt đặc biệt khi trẻ bị sốt vào mùa đông, ho, thở rít, nhịp thở nhanh, bỏ bú hoặc bỏ ăn,… Một số trẻ có thể gặp những triệu chứng khác như chướng bụng, nôn, đi phân lỏng, khó thở, quấy khóc,…

Phương pháp điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp hiện tại nhằm giảm tối đa triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm. Những biện pháp phòng ngừa bệnh bao gồm vệ sinh sạch sẽ môi trường sống xung quanh trẻ, bổ sung đầy đủ các loại chất dinh dưỡng giúp tăng cường hệ miễn dịch, đặc biệt tiêm ngừa vaccin đầy đủ theo khuyến cáo giúp trẻ phòng tránh được bệnh nhiễm trùng hô hấp.

5. Viêm phổi

Khi trẻ bị sốt vào mùa đông có thể là dấu hiệu của bệnh viêm phổi. Đây là một tình trạng bệnh lý rất hay gặp ở trẻ, gây ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau thường do nhiễm trùng phổi. Viêm phổi làm cho các tổ chức tại phổi bị viêm và ảnh hưởng tới chức năng, hoạt động của phổi. Viêm phổi cũng chính là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ dưới 5 tuổi. Dấu hiệu nhận biết viêm phổi đó là thở nhanh, sốt, ho, ngạt mũi, đau bụng, nôn ói,…

Đối với những trường hợp trẻ có triệu chứng bệnh nhẹ, trẻ có thể được điều trị tại nhà. Tuy nhiên với những trường hợp trẻ xuất hiện các triệu chứng như bỏ bú, co giật, nổi vân tím toàn thân thì cần được nhập viện ngay để được điều trị kịp thời. Cách phòng ngừa viêm phổi hiệu quả đó là tiêm vaccin đầy đủ, đúng lịch. Đồng thời bổ sung đầy đủ các chất dinh dưỡng nhằm tăng cường sức đề kháng cho trẻ. Tránh xa các nguồn lây nhiễm bệnh để đạt được hiệu quả phòng bệnh tốt nhất.

bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa đông

Hen suyễn là bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa đông

6. Bệnh sởi

Bệnh sởi do virus gây ra và lây qua đường hô hấp nên rất dễ bùng phát thành dịch. Những triệu chứng đặc chưng của bệnh sởi đó là sốt, sổ mũi, phát ban, ho khan, viêm kết mạc,… Nếu không được điều trị kịp thời bệnh có thể tiến triển nặng và dẫn tới các biến chứng nguy hiểm như viêm phổi, viêm não, viêm tai giữa, khô loét giác mạc mắt,…

Phương pháp điều trị bệnh sởi ở trẻ đó là cho trẻ nghỉ ngơi nơi thông thoáng có đủ ánh sáng và vệ sinh răng miệng đầy đủ. Bên cạnh đó, bù nước và bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng vào chế độ ăn của trẻ. Lưu ý cha mẹ nên cho trẻ ăn các loại đồ ăn dạng lỏng dễ tiêu. Khi triệu chứng trở nên nghiêm trọng như ho nhiều, khó thở, ban lặn nhưng vẫn sốt thì cha mẹ cần đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế. Tốc độ lây lan bệnh sởi rất nhanh do vậy tiêm vaccin phòng ngừa đúng lịch và đủ mũi theo phác đồ là biện pháp phòng ngừa bệnh đơn giản và hiệu quả nhất giúp bảo vệ trẻ và cộng đồng.

Tóm lại, khi vào mùa đông thời tiết thay đổi tạo điều kiện môi trường cho vi khuẩn và virus phát triển nên trẻ rất dễ mắc bệnh. Những bệnh thường gặp ở trẻ vào mùa đông như viêm phổi, nhiễm trùng hô hấp, sởi, chân tay miệng,… Những bệnh này có thể tự khỏi nhưng nếu bệnh tiển triển nặng có thể dẫn tới tình trạng nguy hiểm. Vì vậy, khi thấy có những dấu hiệu bất thường cần đưa trẻ ngay tới cơ sở y tế để được thăm khám. Bên cạnh đó, cần áp dụng các biện pháp phòng bệnh hiệu quả, giữ ấm thân nhiệt trẻ vào mùa đông.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Không chỉ với bệnh nhân bị dị vật đường thở mà cả những bệnh nhân bị ngất xỉu, ngừng thở, ngừng tuần hoàn thì đều cần phải giải phóng đường thở. Điều đó chứng tỏ việc khai thông đường thở cho bệnh nhân là hết sức quan trọng.

1. Vì sao cần giải phóng đường thở trong cấp cứu?

Giải phóng đường thở hay khai thông đường thở là một thủ thuật cấp cứu rất quan trọng đối với người thực hiện cấp cứu để đảm bảo oxy và thông khí đầy đủ cho bệnh nhân.

Các công việc chính của chăm sóc đường thở cho bệnh nhân đó là:

  • Bảo vệ đường thở;
  • Giải phóng tắc nghẽn;
  • Kỹ thuật hút đờm dãi.

Các biện pháp giải phóng đường thở trong cấp cứu có thể rất đơn giản như việc thay đổi tư thế đầu bệnh nhân (như kỹ thuật ngửa đầu nâng cằm, ấn giữ hàm) hoặc loại bỏ dị vật làm tắc nghẽn đường thở nếu có.

Khai thông đường thở là một ưu tiên đầu tiên trong cấp cứu. Sau đó bạn cần tiến hành thông khí miệng – miệng hoặc miệng – mũi, miệng – mask, bóng ambu. Cuối cùng là các biện pháp bảo vệ đường thở được thực hiện bởi nhân viên y tế chuyên nghiệp như canuyn họng miệng, đặt nội khí quản hoặc mở khí quản.

2. Nguyên nhân nào gây tắc nghẽn đường thở?

Tắc nghẽn đường thở là nguyên nhân hàng đầu khiến bệnh nhân cần được khai thông đường thở. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây tắc nghẽn đường thở.

  • Nguyên nhân nội sinh gồm có:
  • Do sập các tổ chức phần mềm vùng họng miệng do giảm trương lực cơ, gãy xương hàm;
  • Phù thanh quản hoặc co thắt thanh quản;
  • Viêm sụn nắp thanh quản cấp;
  • Viêm thanh quản cấp;
  • Bạch hầu thanh quản;
  • Liệt dây thanh âm hai bên;
  • Dị ứng gây phù niêm mạc họng và khí quản, thường là do phản ứng dị ứng khi bị ong đốt, sử dụng thuốc kháng sinh hoặc các thuốc hạ huyết áp (ức chế men chuyển);
  • Chấn thương thanh quản;
  • Khối u thanh quản.
  • Nguyên nhân ngoại sinh gồm có:
  • Phù thanh quản;
  • Ổ mủ vùng hầu họng;
  • Khối máu tụ có thể do rối loạn đông máu, chấn thương, phẫu thuật;
  • U tuyến giáp;
  • U hạch;
  • U hoặc dị vật thực quản.
  • Dị vật gây tắc nghẽn đường thở:
  • Thức ăn
  • Đồ chơi với trẻ em hoặc bất kì đồ vật gì với các người mắc bệnh sa sút trí tuệ hoặc người bệnh tâm thần.

Ngườ bệnh mắc U tuyến giáp cần được giải phóng đường thở trong cấp cứu

Ngườ bệnh mắc U tuyến giáp cần được giải phóng đường thở trong cấp cứu

3. Các kỹ thuật giải phóng đường thở

3.1. Thay đổi tư thế bệnh nhân

Khi bệnh nhân trong tình trạng không đáp ứng (hôn mê, ngừng tuần hoàn) bạn cần làm như sau:

  • Cần nhanh chóng kiểm tra xem có chấn thương cổ hoặc mặt không, nếu bệnh nhân có chấn thương cột sống cổ để cổ ở tư thế ngửa trung gian;
  • Nếu bệnh nhân đang nằm nghiêng hoặc nằm sấp thì cần dùng kỹ thuật “lật khúc gỗ” (lật đồng thời cả đầu, thân và chân tay cùng lúc) để chuyển bệnh nhân về tư thế nằm ngửa;
  • Khai thông đường thở cho bệnh nhân bằng một trong hai cách sau đây: Ngửa đầu hoặc nhấc cằm bệnh nhân lên nếu không nghi ngờ có chấn thương cột sống cổ. Hoặc ấn giữ hàm của bệnh nhân nếu nghi ngờ có chấn thương cột sống cổ, cách làm này cần được huấn luyện bài bản;
  • Tụt lưỡi là một nguyên nhân thường gặp nhất gây tắc nghẽn đường thở. Trong trường hợp này chỉ cần áp dụng một trong hai cách trên là có thể đã đủ kéo lưỡi về phía trước và mở thông đường thở cho bệnh nhân.

Tư thế khai thông đường thở đối với các trường hợp khác như sau:

  • Bệnh nhân suy hô hấp, phù não, tai biến mạch máu não áp dụng tư thế fowler;
  • Bệnh nhân bị phù phổi cấp cần áp dụng tư thế ngồi thõng chân cho bệnh nhân.

3.2. Giải phóng đường thở khi bị tắc nghẽn đường thở

Việc phát hiện sớm tình trạng tắc nghẽn đường thở có tính quyết định. Các dị vật có thể làm tắc nghẽn đường thở một phần hoặc hoàn toàn.

Với trường hợp dị vật làm tắc nghẽn một phần, bạn cần thực hiện như sau:

  • Có thể mức trao đổi khí vẫn gần như bình thường, bệnh nhân vẫn tỉnh táo và có thể ho được, thì bạn cần động viên bệnh nhân ho để tống dị vật ra ngoài;
  • Nếu bệnh nhân vẫn còn tắc nghẽn đường thở, trao đổi khí xấu đi, khó thở tăng lên, tím tái thì cần can thiệp gấp.

Khi bệnh nhân bị dị vật làm tắc nghẽn hoàn toàn đường thở thì bệnh nhân sẽ không thể nói, ho, thở, thậm chí có thể bị hôn mê và cần được cấp cứu ngay. Nếu các biện pháp điều chỉnh tư thế bệnh nhân để khai thông đường thở bị thất bại hoặc bạn thấy có dị vật ở miệng, hầu bệnh nhân thì cần áp dụng các biện pháp sau:

3.2.1. Ép bụng (nghiệm pháp Heimlich)

Dùng tay của bạn ép vào vùng thượng vị bệnh nhân một cách nhanh làm đẩy cơ hoành lên trên gây tăng áp lực ở lồng ngực để tạo một luồng khí mạnh nhằm tống dị vật ra khỏi đường hô hấp, tương tự như phản xạ ho.

Nếu bệnh nhân đang ngồi hoặc đứng, bạn hãy đứng phía sau bệnh nhân và dùng cánh tay ôm lấy eo bệnh nhân. Một bàn tay nắm lại, ngón cái ở trên đường giữa các ngón còn lại, đặt lên bụng phía dưới mũi ức. Bàn tay còn lại ôm lên trên bàn tay kia và thực hiện động tác giật hướng lên trên và ra sau một cách thật nhanh và dứt khoát. Bạn có thể lặp lại động tác cho tới khi giải phóng được đường thở hoặc tri giác bệnh nhân xấu đi.

Khi bệnh nhân hôn mê, bạn cần đặt bệnh nhân nằm ngửa, mặt ngửa lên trên, nếu bệnh nhân nôn cần để đầu nghiêng một bên và lau miệng. Sau đó bạn quỳ gối sang hai bên hông bệnh nhân, đặt một bàn tay lên trên bụng ở vị trí giữa rốn và mũi ức, bàn tay còn lại úp lên trên. Tiếp theo bạn đưa người ra phía trước ép nhanh lên phía trên để tống dị vật ra ngoài, thực hiện lại nếu cần.

Khi bạn chỉ có một mình và phải ép tim, hô hấp nhân tạo cho bệnh nhân thì bạn nên quỳ gối ở một bên hông bệnh nhân để dễ di chuyển và dùng tay ép như trên. Nếu có thêm người nữa thì một người hô hấp nhân tạo và ép tim, một người làm nghiệm pháp.

Nếu bạn là người bị tắc nghẽn đường thở do dị vật, bạn có thể tự ép bụng bằng cách nắm tay lại rồi ấn lên bụng hoặc ép bụng vào các bề mặt rắn chắc như lưng ghế, mặt bàn, bồn rửa, v.v…

Sau mỗi đợt ép bụng bạn hãy dùng 2 đến 3 ngón tay để móc khoang miệng bệnh nhân kiểm tra. Sau khi đã lấy được dị vật đường thở cho bệnh nhân, bạn nên đánh giá hô hấp, tuần hoàn của bệnh nhân và thực hiện các can thiệp thích hợp.

3.2.2. Vỗ lưng và ép ngực

Việc sử dụng nghiệm pháp Heimlich cho trẻ nhỏ có thể gây ra những chấn thương bụng, nên bạn hãy kết hợp vỗ lưng và ép ngực để loại trừ dị vật ở trẻ nhỏ. Chỉ bằng một động tác vỗ lưng cũng đã có thể tống được dị vật, nếu nó không có hiệu quả thì nối tiếp bằng động tác ép ngực, sau đó kiểm tra đường thở. Đặt trẻ nằm trên tay bạn với tư thế sấp dọc theo trục của tay và đầu trẻ ở thấp. Dùng lòng bàn tay bạn vỗ nhẹ và nhanh 5 cái lên vùng giữa hai xương bả vai của trẻ.Nếu vỗ lưng không đẩy được dị vật ra, bạn hãy lật trẻ nằm ngửa và ép ngực 5 cái. Vị trí và cách ép ngực tương tự như động tác ép tim nhưng được thực hiện với nhịp độ chậm hơn.Bạn cần làm sạch đường hô hấp cho trẻ giữa các lần vỗ lưng – ép ngực, quan sát khoang miệng trẻ và dùng tay lấy bất cứ dị vật nào nếu nhìn thấy, tuy nhiên không dùng ngón tay đưa sâu vào vùng họng để lấy dị vật.

Vỗ lưng và ép ngực

Vỗ lưng và ép ngực giúp khai thông đường thở

3.3. Đánh giá hiệu quả giải phóng đường thở bị tắc nghẽn do dị vật

Sau mỗi động tác giải phóng đường thở, bạn cần xác định xem dị vật đã được tống ra hết chưa và đường thở của bệnh nhân đã được khai thông chưa, nếu chưa được cần lặp lại trình tự các động tác thích hợp tới khi thành công.

Xác định loại bỏ dị vật thành công khi thấy:

  • Bạn thấy chắc chắn dị vật đã được tống ra ngoài;
  • Bệnh nhân có thể thở rõ và nói được;
  • Bệnh nhân tỉnh hơn ;
  • Màu da của bệnh nhân trở về bình thường.

Nếu bạn đã thực hiện các động tác khai thông đường thở trên nhưng không có hiệu quả thì thực hiện các biện pháp khác mạnh mẽ hơn nếu có thể:

  • Dùng đèn soi thanh quản và lấy dị vật bằng kẹp Magill;
  • Mở khí quản qua màng nhẫn giáp;
  • Mở khí quản qua da.

Các kỹ thuật này là kỹ thuật nâng cao, đòi hỏi người thực hiện phải được đào tạo đặc biệt mới có thể tiến hành được.

Tóm lại, giải phóng đường thở là một thủ thuật cấp cứu rất quan trọng đối với người thực hiện cấp cứu để đảm bảo oxy và thông khí đầy đủ cho bệnh nhân. Các biện pháp giải phóng đường thở trong cấp cứu có thể rất đơn giản như việc thay đổi tư thế đầu bệnh nhân hoặc loại bỏ dị vật làm tắc nghẽn đường thở nếu có.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Trẻ sơ sinh thích bế khi ngủ, cứ đặt xuống là trẻ khóc là vấn đề hay gặp và rất nan giải của rất nhiều bậc cha mẹ. Việc này phần nhiều xuất phát từ việc nuôi dạy trẻ không đúng cách. Vậy các bậc phụ huynh cần làm gì để giải quyết tình trạng trẻ sơ sinh bắt bế khi ngủ?

1. Giấc ngủ của trẻ sơ diễn ra như thế nào?

Để xử lý tình trạng trẻ sơ sinh thích bế khi ngủ, chúng ta cần hiểu về giấc ngủ sinh lý của bé ở giai đoạn này.

Từ lúc mới sinh đến dưới 1 tháng tuổi (hay còn gọi là trẻ sơ sinh) là giai đoạn trẻ dành thời gian cả ngày cho giấc ngủ. Thời gian bé thức chỉ là khi bú mẹ (trẻ thường bú khoảng 2 đến 3 giờ/lần).

Lý do trẻ cần bú nhiều lần trong ngày như vậy là vì diện tích dạ dày trẻ sơ sinh còn nhỏ nên rất mau đói. Đồng thời, giai đoạn này bé vẫn chưa phân biệt thời gian ngày và đêm nên sẽ có những bé ngủ nhiều ban ngày và ban đêm lại thức nhiều hơn. Bình thường, thời gian ngủ ban ngày của trẻ là khoảng 8 đến 9 tiếng và khoảng 8 tiếng vào buổi đêm.

Đến giai đoạn lớn hơn (khoảng 3 tháng tuổi hoặc khi trẻ được khoảng 6kg cân nặng), các con dần dần có thói quen ngủ suốt đêm (từ 6 đến 8 tiếng) và không thức giấc nhiều như trước đó. Cha mẹ có thể không cần đánh thức con dậy để cho bú như trước nhưng lưu ý không nên để con ngủ quá 3 tiếng mà không bú, tránh việc trẻ đói bụng.

Một số trường hợp đặc biệt hơn như sinh non tháng, trẻ nhẹ cân hoặc mắc chứng trào ngược dạ dày thực quản… có thể phải cho bú thường xuyên hơn, khoảng 2 đến 2 tiếng rưỡi một lần đảm bảo đủ năng lượng cho cơ thể.

Các giai đoạn khi tỉnh giấc của trẻ sơ sinh rất khác nhau. Nhiều bé sau khi thức giấc vẫn nằm yên và mở mắt. Tiếp sau đó bé bắt đầu có những cử động tay chân và tỏ ra tỉnh táo hơn. Thông thường giai đoạn cuối cùng là bé òa khóc. Do đó, thời điểm tốt nhất cho con bú là trước khi bước sang giai đoạn òa khóc. Khóc là cách bé biểu hiện cho mẹ là mình đói bụng. Một số bé có các dấu hiệu khác như tìm vú hay đưa tay vào miệng. Nếu để con òa khóc mà chưa cho bú, bé có thể tỏ ra hơi khó chịu và không chịu bú nữa. Lúc này mẹ nên có những cử chỉ để làm dịu con ôm bé sát vào người hoặc quấn bé trong một cái khăn.

2. Tại sao trẻ sơ sinh đòi bế khi ngủ?

Bước sang giai đoạn từ 6 đến 8 tuần tuổi, cha mẹ đã có thể dạy con cách tự ngủ. Tốt nhất là mẹ hãy đặt bé xuống giường ngủ khi nhận thấy các dấu hiệu buồn ngủ nhưng bắt buộc trẻ vẫn còn thức. Cách dạy bé từ 6 đến đến 8 tuần đầu sau sinh cực kỳ quan trọng.

Một số mẹ có thói quen cho con nằm võng hay nôi, thích bế con khi ngủ vô tình tạo ra thói quen không tốt. Khi đó, tình trạng trẻ sơ sinh thích bế khi ngủ hoặc đòi nằm võng đu đưa gây nên nhiều phiền toái cho cha mẹ.

trẻ sơ sinh thích bế khi ngủ

Một số trẻ sơ sinh thích bế khi ngủ khi bước sang giai đoạn mới

Các chuyên gia khuyến cáo cha mẹ không nên tạo cho con những thói quen không tốt như bế, đung đưa hay cho ngậm núm vú giả để dỗ bé ngủ. Thay vào đó, cha mẹ nên tạo ra một số thói quen khác như hát ru, cho nghe nhạc nhẹ, vỗ nhẹ mông hay gãi nhẹ đầu… Nhưng cần phải lưu ý là trẻ sẽ quen với thói quen đó và cha mẹ cần phải thực hiện thì con mới ngủ. Do đó, cha mẹ nên lựa chọn thói quen vừa phù hợp với con vừa khả thi thực hiện đối với mình.

Nếu vẫn sốt ruột mong cho con ngủ tốt nhưng vẫn muốn hạn chế tình trạng trẻ sơ sinh đòi bế khi ngủ, cha mẹ có thể bế con cho đến khi thiu thiu ngủ rồi đặt bé xuống giường chứ tuyệt đối không để bé ngủ trên tay mình. Nhiều mẹ vì thương con mà để con ngủ trên tay đã tạo ra phản xạ không tốt, cứ đặt xuống là trẻ khóc và đòi mẹ bế mới chịu ngủ.

Trẻ sơ sinh tương tự một tờ giấy trắng, cha mẹ muốn con ngủ ngoan ngoãn thì không nên bỏ qua thời điểm có thể dạy bé thói quen ngủ đúng cách. Giấc ngủ của trẻ vừa quan trọng trong sự phát triển toàn diện của bản thân vừa quan trọng với sức khỏe của mẹ.

Nhiều mẹ có con quấy đêm nhiều, không chịu ngủ rơi vào trạng thái thiếu ngủ. Từ đó, người mẹ không đủ sức khỏe, tinh thần để chăm sóc con toàn diện được. Do đó, cha mẹ hãy cố gắng áp dụng những phương pháp dỗ bé ngủ thích hợp, tránh hiện tượng trẻ sơ sinh thích bế khi ngủ và ảnh hưởng đến sức khỏe cả mẹ và con.

3. Một số lưu ý trong việc dạy bé tự ngủ

3.1. Hạn chế đu đưa trẻ khi ngủ

Nhiều trẻ sơ sinh đòi bế khi ngủ hoặc phải đu đưa liên tục mới chịu ngủ là do thói quen sai lầm của cha mẹ. Trong đó việc cho con nằm nôi lắc hoặc nằm võng đu đưa liên tục rất hay gặp. Cha mẹ cần lưu ý có thể đu đưa nhẹ lúc con vừa thiu thiu ngủ và ngừng ngay hành đồng này khi con đã ngủ yên, không tạo ra thói quen khiến con đòi đu đưa võng liên tục mới chịu ngủ.

3.2. Không tập cho con nằm võng

Thói quen cho con nằm võng khi ngủ rất hay gặp tại Việt Nam. Trẻ sơ sinh không hề biết võng là gì nếu cha mẹ không đặt bé vào đó. Điều này tạo ra thói quen nghiện võng, có võng mới chịu ngủ và rất khó từ bỏ. Đến giai đoạn lớn hơn khi con biết lật, biết bò thì việc nằm võng gây nên vấn đề nguy hiểm khác là khi bé thức dậy mà không có người lớn bên cạnh, rất dễ té hoặc gặp tai nạn. Do đó, để đảm bảo những gì tốt nhất, cha mẹ nên suy nghĩ kỹ trước khi quyết định cho trẻ nằm võng.

trẻ sơ sinh thích bế khi ngủ

Cha mẹ nên khắc phục tình trạng trẻ sơ sinh thích bế khi ngủ và thích nằm võng ngủ

3.3. Thiết lập thời khóa biểu

Cha mẹ nên thiết lập một thời gian biểu cho các hoạt động trong ngày của bé. Trong đó quy định giờ nào cho trẻ bú, giờ nào tắm, giờ nào ngủ và cố gắng thực hiện chúng một cách chính xác để tạo thói quen hằng ngày cho con. Trước khi đi ngủ, cha mẹ có thể lau người bé bằng nước ấm, massage, cho nghe nhạc êm dịu hay hát ru cho con để giúp giấc ngủ thoải mái hơn.

Mỗi ngày, cha mẹ hay duy trì các “thủ tục” này theo đúng trình tự và thời gian biểu để tạo một phản xạ có lợi cho bé.

3.4. Tạo môi trường ngủ phù hợp

Giấc ngủ của con sẽ không ngon nếu phòng ngủ quá nóng hoặc quá lạnh. Cha mẹ nên tạo và duy trì nhiệt độ phòng của trẻ sơ sinh trong khoảng 28 đến 29 độ C. Đồng thời, phòng ngủ cần thông thoáng khí nhưng không được để gió lùa quá nhiều. Bên cạnh đó, tuyệt đối không được để quạt thổi trực tiếp vào người hoặc để con nằm ngay luồng gió của máy lạnh.

Bên cạnh phòng ngủ, đặc biệt là khi có sử dụng máy lạnh, cha mẹ nên cho con mặc áo liền quần, mang vớ giữ ấm chăn, hạn chế đắp nhiều chăn mền gây nóng nực. Ngoài ra cha mẹ phải cố gắng giữ tã luôn khô ráo để con ngủ ngon giấc nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Hạt điều không chỉ được xếp vào món ăn vặt lành mạnh với vị thơm ngon mà còn được xem như một loại thực phẩm cung cấp nhiều dưỡng chất quan trọng mang lại nhiều lợi ích cho sức khoẻ, như vitamin, chất khoáng, chất chống oxy hóa… Vậy trẻ em ăn hạt điều có tốt không?

1. Hạt điều và giá trị dinh dưỡng của hạt điều

Hạt điều có nguồn gốc từ Brazil và bắt đầu được biết đến ở Việt Nam từ những năm 1980 với hương vị thơm ngon béo ngậy. Bên cạnh đó, loại hạt này cũng có giá trị dinh dưỡng khá cao nên được rất nhiều người trên thế giới ưa chuộng. Hiện nay, Việt Nam cũng đã trở thành một trong ba quốc gia có sản lượng xuất khẩu hạt điều trên thế giới và hạt điều ở Việt Nam được trồng phổ biến ở các tỉnh Tây Nguyên, Duyên Hải Nam Trung Bộ, Đăk Lăk,…

Không phải ngẫu nhiên hạt điều được xếp vào nhóm thực phẩm giàu chất dinh dưỡng được người tiêu dùng lựa chọn. Thành phần dinh dưỡng trong hạt điều khá phong phú với hàm lượng các chất bổ dưỡng chiếm tỷ lệ cao như protein, các khoáng chất cần thiết như canxi, đồng, magie, sắt, phốt pho, kali và kẽm.

Ngoài ra, trong thành phần của hạt điều có chứa một lượng nhỏ natri. Không những thế, thành phần vitamin trong hạt điều rất đa dạng với các loại vitamin rất quan trọng cho cơ thể như vitamin C, B1, B2, B3, B6, folate – vitamin B9, vitamin E, vitamin K. Đặc biệt, với những loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật thì hạt điều còn chứa lượng acid không no bão hoà đơn và acid béo không no bão hoà đa đáng kể như acid oleic và thành phần của hạt điều không chứa cholesterol gây ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể.

trẻ em ăn hạt điều có tốt không

Giải đáp trẻ em ăn hạt điều có tốt không?

2. Hạt điều có tốt cho trẻ em không?

  • Hạt điều có tác dụng giúp ngăn ngừa các bệnh liên quan đến tim mạch. Thành phần dinh dưỡng của hạt điều khá phong phú với các dưỡng chất trong đó acid béo lành mạnh rất cần thiết để giúp cơ thể hấp thụ các loại vitamin tan trong dầu như vitamin A, vitamin D, vitamin E, vitamin K đồng thời những thành phần này còn giúp cho cơ thể sản sinh ra các acid béo quan trọng giúp cho sự phát triển não bộ. Chất béo trong hạt điều bao gồm cả chất béo bão hoà đơn và chất béo bão hoà đa, cả hai loại này đều rất tốt cho tim mạch đồng thời còn giúp làm giảm hàm lượng cholesterol xấu (Cholesterol LDL) nếu được đưa vào cơ thể với liều lượng không thích hợp.
  • Hạt điều hỗ trợ và tăng cường sức khỏe cho mắt. Trong chúng ta ai cũng đều biết về tác dụng của cà rốt với sức khoẻ của mắt. Và tương tự vậy hạt điều cũng chứa những thành phần dinh dưỡng mang lại nhiều lợi ích cho sức khoẻ của mắt. Thành phần chất dinh dưỡng trong hạt điều có chứa hàm lượng lutein và zeaxanthin cao, hai hợp chất này đều hoạt động như các chất chống hóa khi được tiêu thụ thường xuyên. Bên cạnh đó, những hợp chất này còn giúp bảo vệ mắt không bị tổn thương và thậm chí có thể làm giảm những trường hợp đục thuỷ tinh thể.
  • Hạt điều giúp tăng cường cơ bắp và duy trì cho hệ thần kinh khỏe mạnh. Magie khá phổ biến trong thành phần của hạt điều, cũng là chất quan trọng cho sự phát triển của xương, cơ, mô và các cơ quan của cơ thể. Hơn nữa, magie còn giúp duy trì huyết áp và tăng cường hệ miễn dịch, hoặc duy trì chức năng thần kinh đồng thời giữ cho xương chắc khỏe. Hậu quả của thiếu chất dinh dưỡng magie có thể khiến cho người bệnh có một số triệu chứng nhu huyết áp cao, chứng đau nửa đầu, đau nhức và mệt mỏi. Không những vậy, hạt điều còn có tác dụng đối với phụ nữ thời kỳ mãn kinh giúp cho giấc ngủ của họ được thoải mái và dễ chịu hơn khi về đêm.
  • Hạt điều có tác dụng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Hàm lượng đường trong hạt điều rất thấp và không chứa cholesterol có hại cho sức khoẻ nên hạt điều khá an toàn cho những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường hoặc bệnh nhân bị tiểu đường. Ngoài ra, chiết xuất từ hạt điều có thể đáp có thể giúp cơ thể cải thiện khả năng đáp ứng insulin và có thể giảm thiểu sự tiến triển của bệnh, giúp điều chỉnh lượng đường máu phù hợp và ổn định, từ đó giúp giảm nguy cơ tiểu đường type 2.
  • Hạt điều có tác dụng phòng chống ung thư với những hợp chất chống oxy hoá mạnh mẽ như acid anacardic, cardanol và cardols. Những hợp chất này có khá nhiều lợi ích cho những bệnh nhân đang điều trị ung thư và u bướu. Ngoài ra, hợp chất Proanthocyanidins chứa trong hạt điều còn có tác dụng chống lại và ngăn chặn các tế bào ung thư thực hiện phân chia và hợp chất này thuộc nhóm flavonoid . Đây cũng chính là lợi ích nổi bật nhất của hạt điều đối với sức khỏe.
  • Hạt điều còn giúp thúc đẩy quá trình hình thành tế bào hồng cầu. Khoáng chất đồng trong hạt điều khá phong phú, và có tác dụng trong hỗ trợ trao đổi chất cùng với quá tính ản sinh các tế bào hồng. Không những thế, đồng trong hạt điều còn giúp hệ xương chắc khỏe đồng thời tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể.
  • Trẻ ăn hạt điều có tốt không? Hạt điều giúp tăng cường sức khỏe của xương và răng miệng. Ngoài những khoáng chất đã nêu trong hạt điều, thì không thể không kể tới hàm lượng phospho được cung cấp từ hạt điều khá dồi dào. Hợp chất này giúp phát triển mạnh hệ xương răng đồng thời còn có tác dụng trong quá trình tổng hợp protein, hấp thu carbohydrate và chất béo giúp duy trì sức khoẻ của các tế bào trong cơ thể.
  • Hạt điều giúp ngăn ngừa sỏi mật – bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, thường xuất hiện sỏi cholesterol do cholesterol tích luỹ trong túi mật. Khi đó, thường xuyên sử dụng hạt điều có thể giúp giảm quá trình hình thành sỏi trong túi mật.
  • Trẻ em ăn hạt điều có tốt không? Hạt điều có chứa hàm lượng kẽm phong phú, đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hệ thống miễn dịch, chống nhiễm khuẩn đồng thời còn tham gia cả vào quá trình tổng hợp protein và chữa lành vết thương cho cơ thể. Ngoài ra, kẽm còn có tác dụng quan trọng với phụ nữ đang mang thai và quá trình phát triển của thai nhi trong những năm đầu tiên của cuộc đời nhằm duy trì cho trẻ một cơ thể khỏe mạnh.

Hạt điều giúp ngăn ngừa tình trạng thiếu máu của cơ thể. Nguồn cung cấp sắt từ hạt điều cho cơ thể khá phong phú. Hợp chất này rất cần thiết cho việc vận chuyển oxy trong cơ thể và giúp cải thiện cả hoạt động của enzyme cũng như hệ miễn dịch. Nếu sắt không được cung cấp đủ trong chế độ ăn hàng ngày có thể khiến cho cơ thể của trẻ mệt mỏi, và tăng khả năng nhiễm trùng bởi các tác động từ môi trường sống bên ngoài.

trẻ em ăn hạt điều có tốt không

Hạt điều giúp tăng cường sức khỏe của xương và răng miệng

3. Một vài lưu ý khi cho trẻ em ăn hạt điều

Hạt điều có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe đặc biệt đối với trẻ em, tuy nhiên khi sử dụng hạt điều cho đối tượng này cha mẹ cần lưu ý. Bởi vì cơ thể của trẻ còn non nớt, nên bé không thể hấp thu dưỡng chất từ hạt điều như người lớn được.

Đối với những trẻ có triệu chứng liên quan đến họng như ho hoặc khàn tiếng thì cha mẹ không nên cho trẻ sử dụng hạt điều. Vì các chất béo trong hạt điều sẽ gây nên tác động ảnh hưởng đến niêm mạc và dẫn đến tình trạng khàn tiếng nặng hơn và có thể gây mất tiếng.

Cha mẹ nên sử dụng một lượng phù hợp với độ tuổi của trẻ và thời gian sử dụng. Nếu cho trẻ ăn quá nhiều và ăn trước khi đi ngủ có thể khiến cho trẻ bị đầy bụng và làm cho trẻ khó ngủ. Vì vậy, cha mẹ có thể cho trẻ ăn khoảng 3 đến 4 lần một tuần và mỗi lần khoảng 16 hạt. Nếu trẻ em dưới 3 tuổi, cha mẹ nên xay hạt điều thành sữa để trẻ sử dụng dễ dàng hợp và giúp hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn.

Hãy thường xuyên truy cập website Vinmec.com và cập nhật những thông tin hữu ích để chăm sóc cho bé và cả gia đình nhé.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

Trẻ không phản ứng khi gọi tên hay trẻ gọi không thưa là tình trạng trẻ tự thu hẹp phạm vi giao tiếp của bản thân. Tình trạng này làm cho trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp với mọi người xung quanh và thường có xu hướng thích chơi 1 mình.

1. Trẻ không chịu giao tiếp có phải dấu hiệu của tự kỷ?

Tự kỷ hay còn được gọi là rối loạn thần kinh phức tạp. Trẻ mắc chứng tự kỷ thường:

  • Hạn chế tương tác với xã hội;
  • Trẻ có thể giao tiếp bằng lời hoặc không lời;
  • Các hành vi, cử chỉ của bé thường lặp lại 1 cách rập khuôn.

Cha mẹ nếu quan sát trẻ nếu thấy các biểu hiện như: Trẻ không chịu giao tiếp, ít thể hiện cảm xúc, ít cười, mối quan hệ thu hẹp, hạn chế tương tác với mọi người,thiếu nhận thức về sự nguy hiểm, nhạy cảm với âm thanh, tăng động,…Đặc biệt là các trường hợp trẻ thoái lui ngôn ngữ nghiêm trọng, ví dụ như: Trẻ chậm nói, trẻ không nhìn vào mắt khi nói chuyện hoặc thậm chí mất hẳn ngôn ngữ, trẻ gọi không thưa…thì cần đưa trẻ đến bệnh viện chuyên khoa để được thăm khám sớm, bởi đó có thể là triệu chứng sớm của chứng tự kỷ, độ tuổi dễ mắc nhất là từ 8 đến 24 tháng tuổi.

Trẻ gọi không thưa

Trẻ gọi không thưa là tình trạng trẻ tự thu hẹp phạm vi giao tiếp của bản thân

2. Các triệu chứng lâm sàng giúp phát hiện sớm chứng tự kỷ ở trẻ

Các triệu chứng tự kỷ ở trẻ trước 12 tháng tuổi:

  • Tăng động (trẻ khó ngủ, quấy khóc, dễ bị khó chịu,..);
  • Trẻ thích ở một mình, thờ ơ với các sự việc xảy ra, ít đòi hỏi sự chăm sóc từ bố mẹ;
  • Khả năng tập chúng của trẻ kém.

Các triệu chứng trẻ tự kỷ sau 12 tháng tuổi:

  • Trẻ ít nói cười;
  • Có thể bị điếc hoặc khiếm thính hoặc mất khả năng đáp ứng với âm thanh
  • Khó hòa đồng với các bạn;
  • Chủ yếu quan sát mọi việc bằng mắt. Tuy nhiên nhiều trường hợp trẻ không giao tiếp bằng mắt hay không nhìn vào mắt khi nói chuyện;
  • Hành vi lặp đi lặp lại;
  • Khó tham gia các hoạt động xã hội thông thường.

Các dấu hiệu nghiêm trọng của chứng tự kỷ ở trẻ:

  • Khi trẻ được 12 tháng tuổi, không có dấu hiệu bi bô hay bất cứ cử chỉ nào;
  • Khi 16 tháng tuổi vẫn chưa biết nói các câu đơn;
  • Trẻ không phản ứng khi gọi tên;
  • Khi trẻ 24 tháng tuổi không nói được câu có 2 từ;
  • Trẻ không chịu giao tiếp ở mọi lứa tuổi.

Ở giai đoạn đầu của tự kỷ thì các triệu chứng còn mờ nhạt, khó nhận biết. Tuy nhiên, các bậc phụ huynh cần hết sức lưu ý để có thể nhận ra những dấu hiệu tự kỷ sớm nhất ở trẻ. Từ đó có được biện pháp điều trị kịp thời.

Trẻ không giao tiếp bằng mắt

Trẻ không giao tiếp bằng mắt hay không nhìn vào mắt khi nói chuyện

Tóm lại, tự kỷ ở trẻ là chứng rối loạn hệ thần kinh rất phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và cuộc sống của bệnh nhân. Khoa Y học tái tạo – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec đã và đang điều trị hiệu quả cho hàng trăm bệnh nhân mắc bệnh tự kỷ tái hòa nhập cộng đồng. Một số ưu điểm khi điều trị bệnh tự kỷ tại Vinmec có thể kể đến như:

  • Phương pháp điều trị tiên tiến: Vinmec là bệnh viện đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu điều trị bệnh tự kỷ bằng nhiều phương pháp như giáo dục bằng âm nhạc, hội họa, yoga – thiền, mỹ thuật với kết quả khả quan.
  • Đội ngũ Bác sĩ, chuyên viên trị liệu được đào tạo chuyên sâu, giàu kinh nghiệm, thấu hiểu tâm lý trẻ: Đội ngũ giáo viên, chuyên viên được đào tạo tại các trường uy tín, thấu hiểu tâm lý trẻ và thường xuyên được trau dồi chuyên môn ở trong và ngoài nước với các chuyên gia hàng đầu từ Mỹ, Úc, Ấn Độ, Ý.
  • Trang thiết bị hiện đại: Phòng khám đánh giá có gương một chiều giúp việc quan sát và đánh giá bệnh nhân khách quan, toàn diện, hiệu quả. Các bài test – trắc nghiệm tâm lý bài bản, được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế và được cập nhật thường xuyên. Đồ dùng, dụng cụ trị liệu đa dạng và hiện đại. Phòng bệnh đạt chất lượng tiêu chuẩn 5 sao.
  • Chăm sóc người bệnh chuyên nghiệp: Định kỳ hàng tháng, trung tâm sẽ tổ chức các buổi sinh hoạt, hội thảo trao đổi kinh nghiệm giáo dục với cha mẹ; đồng thời tổ chức các lớp học định kỳ hàng tuần cho bệnh nhân, cùng người nhà theo dõi sát sao tiến triển của người bệnh để có những can thiệp kịp thời.

Để khám và điều trị bệnh tự kỷ với các bác sĩ hàng đầu tại Khoa Y học tái tạo của Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec, Quý Khách vui lòng nhấn vào nút “Liên hệ” trên website, hoặc đăng ký khám trực tuyến.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký lịch trực tuyến TẠI ĐÂY. Tải ứng dụng độc quyền MyVinmec để đặt lịch nhanh hơn, theo dõi lịch tiện lợi hơn!

“Trẻ ăn nhiều thịt có tốt không” là thắc mắc của nhiều cha mẹ. Nhưng thay vì hữu ích, nếu cha mẹ cho trẻ ăn nhiều thịt quá mức, thậm chí bổ sung thêm protein từ các chất tổng hợp nhân tạo vào chế độ ăn uống của con, trẻ có thể gặp phải các vấn đề sức khỏe lâu dài.

1. Vai trò của protein đối với sức khỏe trẻ em

Mọi tế bào, mô và cơ quan trong cơ thể đều chứa các protein. Cấu trúc này liên tục bị phá vỡ, loại bỏ và thay thế mới. Được tạo thành từ các axit amin, protein là nền tảng của gần như mọi cấu trúc bên trong cơ thể. Vai trò của protein đối với sức khỏe trẻ em là đặc biệt quan trọng để duy trì khối lượng cơ, sức khỏe tim mạch, chức năng hô hấp và hệ thống miễn dịch khỏe mạnh.

Các chuyên gia dinh dưỡng đã khuyến cáo rằng khoảng 10 đến 35% lượng calo hàng ngày của người lớn hoặc trẻ em là từ protein hay thịt động vật. Vì vậy, nếu trẻ tiêu thụ 2.000 calo mỗi ngày, 200 đến 700 calo trong số đó nên đến từ protein. Cụ thể hơn, trẻ từ 1 đến 3 tuổi cần 13g protein mỗi ngày, trong khi trẻ từ 4 đến 8 tuổi cần 19g protein mỗi ngày. Lượng protein được khuyến nghị cho trẻ từ 9 đến 13 tuổi là khoảng 34g. Từ 14 đến 18 tuổi, nữ cần 46g protein và nam cần 52g protein mỗi ngày.

Với những ích lợi của protein, cha mẹ thường muốn trẻ ăn nhiều thịt cá để tăng cân nặng lẫn chiều cao. Tuy nhiên, việc cha mẹ cho trẻ em ăn nhiều thịt có tốt không vẫn cần được giải đáp rõ ràng.

2. Trẻ ăn nhiều thịt có tốt không?

“Trẻ em ăn nhiều thịt có tốt không” là thắc mắc của nhiều cha mẹ. Nhưng thay vì hữu ích, nếu cha mẹ cho trẻ ăn nhiều thịt quá mức, thậm chí cả việc bổ sung thêm protein từ các chất tổng hợp nhân tạo vào chế độ ăn uống của con, trẻ có thể gặp phải các vấn đề sức khỏe lâu dài, bao gồm:

  • Tăng cân: Khi trẻ em ăn nhiều thịt, lượng protein dư thừa có nghĩa là sẽ tạo ra lượng calo dư thừa. Nếu sự phát triển cơ thể và hoạt động thường ngày của trẻ không thể đốt cháy calo, cơ thể sẽ lưu trữ chúng dưới dạng chất béo và trẻ sẽ nhanh chóng tăng cân.

trẻ ăn nhiều thịt có tốt không

Trẻ ăn nhiều thịt có tốt không có liên quan đến tình trạng tăng cân nếu không được kiểm soát
  • Tổn thương thận: Lượng protein tiêu thụ vào cơ thể với số lượng nhiều quá mức có thể gây ra sỏi thận cũng như làm cho thận phải làm việc nhiều hơn để lọc các chất thải ra ngoài.
  • Tăng gánh nặng cho gan: Bên cạnh chuyển hóa protein tại thận, quá trình xử lý protein cũng tạo ra nitơ trong gan. Hàm lượng nitơ cao khi trẻ ăn nhiều thịt quá mức khiến cơ thể trẻ khó xử lý chất thải và độc tố sau đó. Ngoài ra, hàm lượng nitơ cao cũng có thể làm giảm khả năng phân hủy chất dinh dưỡng khác cũng cần thiết cho cơ thể.
  • Ảnh hưởng hệ tiêu hóa: Đối với các loại thịt động vật, nhất là thịt đỏ như thịt lợn, bò hay cừu, hệ tiêu hóa thường mất thời gian và nhiều công sức hơn để phân cắt và hấp thu cũng như tống xuất chất thải sau đó. Chính vì thế, khi cho trẻ ăn nhiều thịt sẽ ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa, mất cảm giác thèm ăn,đầy hơi, nặng bụng và táo bón kéo dài.
  • Suy mòn xương: Lượng protein dư thừa khi trẻ em ăn nhiều thịt cũng khiến cơ thể đào thải lượng canxi cao hơn bình thường. Khi lượng canxi dự trữ trong cơ thể giảm đi, xương trở nên yếu và dễ gãy hơn.

3. Nguồn protein phù hợp cho trẻ

Để đảm bảo trẻ em ăn thịt một cách cân đối với các chất dinh dưỡng khác, điều quan trọng là cha mẹ phải hiểu loại thực phẩm nào chứa protein. Các loại thịt, thịt gia cầm, cá, các loại đậu, đậu phụ và trứng chứa một lượng protein đáng kể. Bên cạnh đó, các loại quả hạch hay các sản phẩm từ sữa thường cung cấp một lượng protein vừa phải, trong khi ngũ cốc nguyên hạt, một số loại rau và một số loại trái cây cung cấp một lượng nhỏ protein.

Như vậy, nếu lo lắng rằng trẻ em ăn nhiều thịt quá mức, hãy xem xét việc giảm lượng thức ăn có nhiều chất đạm cho trẻ. Đồng thời, cha mẹ cần lựa chọn loại thịt động vật tốt cho sức khỏe của trẻ. Dưới đây là một số nguồn protein phù hợp cho trẻ:

  • Cá: Đây là nguồn thực phẩm không ăn chay lý tưởng cho trẻ em đang lớn để cung cấp protein. Nạc cá giàu chất đạm có giá trị sinh học cao, chứa nhiều vitamin và khoáng chất. Quan trọng nhất, cá béo còn có Omega 3 và axit Docosahexaenoic (DHA). Cá hồi, cá ngừ, cá tuyết, cá bơn và cá thu là một số loại cá đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe trẻ nhỏ.
  • Gà: Thịt gà cũng là nguồn cung cấp protein tuyệt vời. Thịt gà cung cấp cho trẻ em đang tuổi phát triển và tăng trưởng tốt hơn vì chứa rất nhiều axit amin, giúp trẻ cao lớn và khỏe mạnh hơn.
  • Thịt: Thịt đỏ như thịt bò, thịt cừu và thịt lợn nên được tiêu thụ với số lượng ít hơn. Vì tin rằng thịt bò giúp bổ máu, cha mẹ thường cho trẻ ăn nhiều thịt bò. Nhưng sự thật “trẻ em ăn thịt bò nhiều có tốt không” đều khiến cha mẹ bất ngờ. Bởi ăn thịt bò nhiều sẽ nguy hiểm cho sức khỏe trẻ vì nó có hàm lượng chất béo bão hòa cao.

trẻ ăn nhiều thịt có tốt không

Thịt gà là giải pháp cho câu hỏi trẻ ăn nhiều thịt có tốt không của nhiều bậc cha mẹ

4. Những trường hợp nào cần bổ sung thêm protein

Nếu trẻ mắc phải một trong các nguyên nhân sau thì có thể cần bổ sung thêm protein hay khuyến khích cần ăn nhiều thịt hơn trong chế độ ăn uống:

  • Nhẹ cân: Protein là thành phần cơ bản giúp cấu thành nên các cấu trúc của cơ thể, giúp trẻ tăng cân và cao hơn. Do đó, nếu trẻ suy dinh dưỡng, nhóm thực phẩm cần ưu tiên là chất đạm. Cha mẹ cần lựa chọn đa dạng loại thịt để chế biến thức ăn cũng như duy trì thói quen uống sữa mỗi ngày.
  • Quá kén ăn: Nếu trẻ thường xuyên từ chối các món được cho ăn hay ăn rất ít, cha mẹ cần chú trọng cho trẻ ăn các thực phẩm chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu calo. Lúc này, các loại thịt được nấu nướng với gia vị thơm ngon có thể kích thích vị giác của trẻ thay vì thúc ép trẻ ăn quá nhiều chất tinh bột như cơm, cháo.
  • Đang mắc bệnh: Trẻ em mắc các bệnh lý sẽ tăng cường quá trình trao đổi chất, tiêu hao rất nhiều protein. Chính vì thế, khi trẻ đang ốm hay giai đoạn hồi phục, cha mẹ cần ưu tiên lựa chọn các loại thịt cá khi chế biến thức ăn cho trẻ mau lấy lại sức khỏe, củng cố hệ thống miễn dịch.

Tóm lại, một bữa ăn có các chất dinh dưỡng cân đối luôn là nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ. Dù rằng trẻ em ăn nhiều thịt sẽ nhận được chất đạm thiết yếu giúp cơ thể mau cao lớn hơn, nhưng khi tiêu thụ quá nhiều cũng sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động và chức năng các cơ quan. Do đó, cha mẹ cần biết cách lựa chọn các loại thịt phù hợp cho trẻ, ưu tiên chất đạm từ thịt gà, cá, sữa, hạn chế thịt đỏ như thịt bò, lợn.